Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 12/2025/HSST

Ngày 23 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Đào, ông Lê Bắc Hải.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2003; Nơi ĐKNNTT: Thôn M, xã K, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: Thôn N, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông Lê Văn T và bà Hoàng Thị S; có vợ là Mạc Thị Thúy N và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2025 đến ngày 13/8/2025 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Lê Ngọc P, sinh năm 2005, nơi cư trú: Làng T, xã K, tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh S. Địa chỉ: Thôn G, xã C, tỉnh Sơn La, có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn M, xã K, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn M có mối quan hệ quen biết với Lê Ngọc P, sinh năm 2005, trú tại làng T, xã K, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng đầu năm 2024, P nói với M đang thực hiện hành vi lừa đảo trên mạng, kiếm được nhiều tiền (P không nói cụ thể phương thức thực hiện và số tiền chiếm đoạt của ai). Nghe P nói kiếm được tiền, M nảy sinh ý định đe dọa, uy hiếp tinh thần của P để chiếm đoạt tài sản thông qua phương thức sử dụng tài khoản Telegram có tên “Bùi H” nhắn tin cho P, nội dung: “Biết P đang thực hiện hành vi lừa đảo trên mạng. trước đây bị P lừa đảo chiếm đoạt 18.500.000 đồng và yêu cầu P phải lại trả số tiền trên nếu không sẽ đăng thông tin cá nhân (tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại) của P lên mạng xã hội”. Lo sợ hành vi lừa đảo của mình bị phát hiện, ngày 27/4/2024, P đã chuyển 18.500.000 đồng đến tài khoản B mang tên Bạch Thanh T1 theo yêu cầu của M. Sau khi nhận được tiền, M tiếp tục đe dọa, uy hiếp tinh thần, buộc P phải chuyển thêm tiền. Tháng 4/2025, M yêu cầu P mỗi ngày phải chuyển 1.000.000 đồng, nếu không sẽ công khai toàn bộ thông tin và hình ảnh của P lên mạng facebook. Trong thời gian từ 27/4/2024 đến 13/7/2025, do lo sợ bị M công khai thông tin cá nhân và hành vi phạm tội, P đã chuyển cho M tổng số tiền 105.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Lê Văn M chuyển tiếp vào tài khoản ngân hàng M2 1361386666 mang tên Le Van M1 và tài khoản M2 0342229005 mang tên M3 để sử dụng chỉ tiêu cá nhân.

Ngày 18/7/2025, Lê Ngọc P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh S bắt khẩn cấp về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Cùng ngày, P có đơn trình báo gửi Công an tỉnh S về việc bị chủ tài khoản Telegram “Bùi Hoàng” nhắn tin đe dọa, đòi tiền, đề nghị giải quyết (Ngày 25/7/2025, Lê Ngọc P đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra Quyết định khởi tố bị can về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự). Trên cơ sở kết quả xác minh, ngày 20/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Lệnh giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn M về hành vi phạm tội trên.

Đối với tài khoản T2 mang tên “Bùi Hoàng " và tài khoản ngân hàng B1 8892149079 mang tên Bach Thanh T3, Lê Văn M khai nhận mua trên mạng và không nhớ tên F đã giao dịch. Sau khi biết P bị Cơ quan Cảnh nát điều tra Công an tỉnh S bắt, M đã xóa ứng dụng T2 và SmartBanking trên điện thoại, M không nhớ số thuê bao đăng ký tài khoản Telegram “Bùi Hoàng”.

* Vật chứng, tài liệu thu giữ trong vụ án

Ngày 20/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thi hành Lệnh giữ người khẩn cấp đối với Lê Văn M, thu giữ 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone 14 Pro Max.

* Trách nhiệm dân sự

Ngày 27/7/2025, Lê Văn T (bố đẻ bị cáo) đã tự nguyện giao nộp số tiền 105.300.000 đồng khắc phục toàn bộ số tiền Lê Văn M chiếm đoạt.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-P3 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn M về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố, không khai báo gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 105.300.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và án phí: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max thu giữ của bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị hại Lê Ngọc P: Xác nhận hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn M đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo đã tác động gia đình trả lại cho bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt, tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt, ông T là người trực tiếp nộp số tiền bồi thường là 105.300.000đ, tại phiên tòa ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/4/2024 đến ngày 13/7/2025, Lê Văn M đã sử dụng thủ đoạn nhắn tin đe dọa Lê Ngọc P về việc sẽ tố cáo hành vi lừa đảo và công khai thông tin cá nhân của P lên mạng xã hội nhằm buộc P phải chuyển tiền cho mình. Do lo sợ hành vi phạm tội bị phát hiện, P đã nhiều lần chuyển tiền cho M với tổng số tiền là 105.300.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, M đã sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau:

  • Đơn trình báo cùng các tài liệu kèm theo của Lê Ngọc P về việc bị một người sử dụng tài khoản telegram tên “Bùi H” nhắn tin đe dọa sẽ tố cáo hành hành vi lừa đảo của P buộc P chuyển tiền vào tài khoản cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Kết quả điều tra đã thu thập được các tài liệu, chứng cứ về việc trao đổi, chuyển tiền giữa bị hại và bị cáo.
  • Lời khai của bị cáo thừa nhận đã đe dọa sẽ tố cáo hành vi lừa đảo, công khai thông tin cá nhân của bị hại để chiếm đoạt từ bị hại tổng số tiền 105.300.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với kết quả kiểm tra dữ liệu điện thoại di động của bị cáo và các chứng cứ hợp pháp khác trong hồ sơ.

Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn M đã phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Lê Văn M đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại với tổng giá trị là 105.300.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình chủ động tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 105.300.000 đồng đối với bị hại Lê Ngọc P; bị hại có đơn đề nghị và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã khắc phục xong toàn bộ số tiền chiếm đoạt của bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và mức hình phạt áp dụng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cưỡng đoạt tài sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền chi tiêu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát cũng đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung và thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước. Xét mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự: Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo hiện không có tài sản không có điều kiện để thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ kết quả điều tra, lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án xác định: Tổng số tiền bị cáo Lê Văn M chiếm đoạt của bị hại là 105.300.000 đồng. Ngày 27/7/2025, ông Lê Văn T là bố đẻ của bị cáo đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền trên để bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa ông T không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Đối với những người có liên quan:

Đối với tài khoản Telegram mang tên “Bùi Hoàng " và tài khoản ngân hàng B1 8892149079 mang tên Bach Thanh T3, bị cáo khai nhận mua trên mạng và không nhớ tên F đã giao dịch. Sau khi biết P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S bắt, bị cáo đã xóa ứng dụng Telegram và SmartBanking trên điện thoại, bị cáo không nhớ số thuê bao đăng ký tài khoản Telegram “Bùi Hoàng”.

Đối với Bạch Thanh T4, sinh năm 1975, trú tại Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ - Chủ tài khoản B. M sử dụng nhận chuyển tiền, T4 khai nhận không đăng ký sử dụng tài khoản ngân hàng trên và không quen ai là Lê Ngọc P. Do vậy, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác mở rộng điều tra.

Đối với Mạc Thị Thúy N, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Thanh Hóa (vợ của bị cáo), quá trình điều tra xác định N không biết nguồn gốc số tiền chuyển đến tài khoản là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Do vậy, không xác định N đồng phạm với bị cáo Lê Văn M.

[8] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím thu giữ của Lê Văn M, xét thấy là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền chiếm đoạt: 105.300.000 đồng, bị cáo, gia đình bị cáo đã trả cho bị hại cần ghi nhận và trả lại cho bị hại Lê Ngọc P.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Văn M: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng.

Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/12/2025).

Giao bị cáo Lê Văn M cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Trả lại cho bị hại Lê Ngọc P số tiền 105.300.000đ (một trăm linh năm triệu ba trăm nghìn đồng).

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì giấy màu trắng của Phòng C Công an tỉnh S nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu iphone do Lê Văn M giao nộp”. Mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 0056301 có dòng ghi chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S.

- Trả lại cho bị hại Lê Ngọc P: 01 (Một) phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng vụ: Lê Văn M - Cưỡng đoạt tài sản xảy ra từ ngày 27/4/2024 đến ngày 27/7/2025 trên không gian mạng. Niêm phong hồi 08 giờ 00 phút, ngày 26 tháng 9 năm 2025. Tại Phòng PC09 Công an tỉnh S. Gồm có: Số tiền 105.300.000 VND (Một trăm linh năm triệu ba trăm nghìn đồng)”. Mặt sau phong bì được dán bằng giấy niêm phong số 0099314 của Công an tỉnh S, tại mép giáp lại có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

  1. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23 tháng 12 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm - TANDTC tại Hà Nội;
  • - Viện phúc thẩm 1 - Viện kiểm sát nhân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - PC 03- Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Nguyệt Ân, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng GĐ, KT, TT&THA;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điêu Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về cưỡng đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: 1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội Cưỡng đoạt tài sản. 2. Xử phạt bị cáo Lê Văn M: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger