|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 119/2025/HS-PT Ngày 27 tháng 11 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và bà Bùi Thị Đoan Trang.
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với Hà Đức H và Hà Văn H1.
Do có kháng cáo của bị cáo Hà Văn H1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2025/QĐ-HS ngày 16 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Bị cáo có kháng cáo và kháng nghị: Hà Văn H1, sinh năm 1969; nơi sinh và cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn N, xã L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị M (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968, con có 05 con (lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1997).
Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Bị cáo có kháng nghị: Hà Đức H, sinh năm 1997; nơi sinh và cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn N, xã L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H1, sinh năm 1969 (là bị cáo trong cùng vụ án) và con bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968; có vợ Trần Thị Kim A, sinh năm 2003 và chưa có con.
Về nhân thân: Ngày 01/6/2024, Hà Đức H có hành vi gây thương tích cho Chen Z, sinh năm 1978 trú tại tỉnh Phúc Kiến nước, Trung Quốc đã bị Công an tỉnh B khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với H về tội “cố ý gây thương tích”. Hiện nay do bị hại Chen Z về nước Trung Quốc nên ngày 21/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh) đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo Hà Đức H.
Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh P, (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, Hà Đức H cùng Hà Văn H1 (là bố của H) và ông Hà Văn B đi phát cây quanh ao cá tại cánh đồng Vằng, thuộc thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ), khi đi Hoàng cầm theo 01 dao phay chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, H1 cầm theo 01 dao (loại dao quắm) chuôi dao và lưỡi dao làm bằng kim loại còn ông B không cầm gì. Đến nơi, H nhìn thấy anh Trần Quốc H3 và chị Trần Thị Huyền T (là em gái H3) đang câu cá ở ruộng nước ngập gần khu vực ao nhà Hoàng thả cá. Lúc này, H đi phía trước, cách anh H3 khoảng 15m, H1 đi phía sau H và ông B đi cuối cùng, do nghĩ anh H3 câu trộm cá nên H chạy nhanh đến chỗ anh H3 ngồi câu rồi vứt dao xuống đất, H dùng chân phải đạp từ phía sau 01 phát vào lưng của anh H3 làm anh H3 ngã xuống ruộng nước rồi nói “Nhà tao thả cá sao mày câu”. Anh H3 trả lời: “Đồng nhà ông à mà ông giữ, có tin chiều tao thả thêm kín lưới không". Nghe anh H3 nói vậy, H tiếp tục dùng chân phải đạp 02 phát về phía người anh H3 trong đó 01 phát trúng vào mặt anh H3, 01 phát trúng vào bả vai trái của anh H3. Thấy vậy, ông B đi đến nơi H đánh anh H3 xông vào can ngăn và bảo H “không được đánh anh H3 nữa” thì H dừng lại. Sau đó, H vứt 01 cây chống cần câu, 01 chậu nhựa và một túi mồi câu của anh H3 xuống ruộng nước rồi H cầm chiếc túi đồ câu của anh H3 bên trong có: 01 hộp nhựa loại đựng đồ câu cá, 09 cuộn dây câu, 37 chiếc lưỡi câu đơn, 01 hộp nhựa loại đựng đồ câu; 14 phao câu các loại, 05 ngọn phao dài, 03 cây gác cần các loại, 03 cây vảy, 02 hộp lưỡi câu, 05 chiếc cần câu các loại đưa cho H1 cầm. H1 không tham gia đánh anh H nhưng biết H đánh anh H3 rồi chiếm đoạt tài sản đưa cho H1 thì H1 không nói gì và cầm về luôn; còn H cầm 02 chiếc cần câu và 01 chiếc vợt cá của anh H3 đem về lán trông cá của gia đình H ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Thấy H, H1 cầm túi đồ câu của anh H3 đi về ông B đi theo và nói với H, H1 “lấy làm gì trả cho người ta” nhưng cả hai không trả mà vẫn cầm về. Do bị H đánh và cướp mất đồ câu nên anh H3 gọi điện thoại cho ông Trần Ngọc S là bố đẻ của anh H3 đến để đòi lại tài sản (túi đồ câu). Đến nơi, do ông S biết ông B nên đã gọi điện thoại cho ông B bảo H ra nói chuyện và trả lại tài sản cho anh H3, ông B nói lại cho H và H1 biết việc ông S yêu cầu trả lại tài sản nhưng cả hai không nói gì. Nói xong, ông B đi ra gặp ông S để nói chuyện với ông S. Tại đây, ông S tiếp tục yêu cầu H, H1 phải trả tài sản cho anh H3 và yêu cầu H phải ra để nói chuyện, ông B đi về lán bảo H mang trả đồ câu cho anh H3, lúc này H đang tắm H nhờ ông B cầm ra trả hộ cho H, ông B đồng ý và cầm toàn bộ tài sản mà H, H1 chiếm đoạt của anh H3 ra trả cho anh H3. Do trước đó H vứt mồi câu của anh H3 xuống ruộng nước nên anh H3 yêu cầu H phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, do có sẵn tiền mang theo nên ông B đã bồi thường cho anh H3 thay H số tiền trên. Một lúc sau H đi ra nhưng không xin lỗi anh H3 nên hai bên đi về, sau đó anh H3 đã đến Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) để trình báo sự việc và giao nộp túi đồ câu do H, H1 chiếm đoạt của anh H3 cho công an xã. Sau đó anh H3 được gia đình đưa đến Bệnh viện H4 khám và điều trị thương tích đến ngày 09/9/2024 thì ra viện.
Tại bản kết luận định giá số 1975 ngày 23/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ), kết luận: Tổng trị giá tài sản anh Trần Quốc H3 bị chiếm đoạt có trị giá 6.476.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 382 ngày 26/9/2024 của Trung tâm giám định pháp y - Sở Y kết luận: 1. Các kết quả chính: Vỡ xương bướm phải, gãy cánh lớn xương bướm phải (kích thước đường vỡ dưới 5cm, điện não đồ bình thường), xếp: 16%; Theo dõi tụ máu dưới màng cứng thùy thái dương trái không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm; Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên có thể do vật tày gây nên. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc H3 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm).
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 34 ngày 21/02/2025 của Trung tâm giám định pháp y - Sở Y kết luận: 1. Các kết quả chính: Vỡ xương bướm phải, gãy cánh lớn xương bướm phải (kích thước đường vỡ dưới 5cm, điện não đồ bình thường), xếp: 16%; Tụ máu dưới màng cứng thùy thái dương trái (Hiện tại trên phim chụp CLVT sọ não ngày 20/02/2025 tại bệnh viện H4: Không còn hình ảnh tụ máu dưới màng cứng) xếp: 08%. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc H3 tại thời điểm giám định là: 23% (Hai mươi ba phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng lùi tại Thông tư.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 phạm tội "Cướp tài sản".
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 168 điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Đức H 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/12/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 168 điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Văn H1 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2025 bị cáo Hà Văn H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; ngày 03/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ có Quyết định kháng nghị phúc thẩm nội dung đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không buộc các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn H1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ theo hướng giảm hình phạt, cho bị cáo Hà Văn H1 hưởng án treo và không buộc các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Hà Văn H1 có quan điểm thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Cướp tài sản" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét tạo điều kiện cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội hoàn lương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn H1 và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; VKSND khu vực 11 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời nhận tội tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, Hà Đức H, Hà Văn H1 và ông Hà Văn B cùng nhau đi thăm ao cá, khi đi mang theo dao để phát cây quanh ao cá tại cánh đồng Vằng, thuộc thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Lúc này Hà Đức H đi trước, H1 đi phía sau, còn ông B đi cuối cùng. Khi đến nơi, H nhìn thấy anh Trần Quốc H3 và chị Trần Thị Huyền T (em gái anh H3) đang câu cá ở ruộng gần khu vực ao thả cá nhà H. Do H nghĩ anh H3 câu trộm cá nhà H nên H chạy đến chỗ anh H3 ngồi, H vứt dao xuống đất rồi dùng chân đạp vào lưng của anh H3 làm anh H3 ngã xuống ruộng nước. Sau đó H tiếp tục dùng chân phải đạp 01 phát trúng vào mặt anh H3 gây ra thương tích. Thấy vậy ông B chạy đến can ngăn H nên H dừng lại không đánh anh H3 nữa. Sau khi đánh anh H3 thì H lấy túi đồ câu của anh H3 đưa cho H1 cầm, còn H cầm 02 chiếc cần câu, 01 chiếc vợt cá của anh H3 rồi cả hai cùng nhau đem về. Tổng giá trị tài sản của anh H3 theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng là 6.476.000 đồng, anh H3 bị thương tích theo Kết luận giám định thiệt hại 23% sức khoẻ.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Hà Đức H, Hà Văn H1 tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Hà Văn H1 về tội "Cướp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Về tính chất của vụ án là tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
[4]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn H1; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, căn cứ vào nhân thân, vai trò, vị trí của bị cáo trong vụ án và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để xử phạt bị cáo Hà Văn H1 05 năm tù là phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo tự nguyện nộp án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; bị cáo tự nguyện nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo được Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã L tiếp nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo Hà Văn H1 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình giải quyết vụ án luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; còn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo Hà Văn H1 không bị áp dụng tình tiết nào theo quy định của pháp luật.
Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo Hà Văn H1 là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (cụ thể là 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự) và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng; bị cáo tham gia thực hiện tội phạm chỉ với vai trò giúp sức, không trực tiếp thực hiện hành vi đánh rồi chiếm đoạt tài sản của bị hại; sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế do suy nghĩ đơn giản là bị hại câu cá gần ao thả cá nhà mình thì lấy cần câu nhằm vì mục đích để bị hại không tiếp tục câu cá nữa, nghĩ sao làm vậy không lường trước được hậu quả xảy ra; chỉ vì nhầm tưởng anh H3 (bị hại) câu trộm cá của gia đình mà bị cáo H đánh gây thương tích cho anh H3 rồi lấy cần câu đưa cho H1 cầm dẫn đến bị xử lý trách nhiệm hình sự cả hai bố con đã đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Việc bắt bị cáo H và bị cáo H1 (là bố bị cáo H) trong cùng một vụ án phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, nên cho bị cáo H1 hưởng án treo cải tạo tại địa phương là phù hợp. Vì những lý do trên nên cho bị cáo Hà Văn H1 hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, không ảnh hưởng tới việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, không trái với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn H1 là có cơ sở, phù hợp pháp luật.
[5]. Xét kháng nghị phúc thẩm số 142/QĐ-VKSKV11 ngày 03/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại Trần Quốc H3 yêu cầu các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền là 483.672.372 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định do các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 có hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại Trần Quốc H3 nên phải bồi thường là đúng quy định của pháp luật; còn về mức bồi thường bị hại Trần Quốc H3 yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền như trên là không phù hợp với thực tế thiệt hại và pháp luật quy định. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thực tế thiệt hại của bị hại Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Quốc H3 số tiền 75.522.372 đồng là phù hợp. Trước ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/9/2025) các bị cáo Hà Đức H, Hà Văn H1 đã nộp số tiền 100.000.000 đồng tại phòng thi hành án dân sự 11 – Phú Thọ để bồi thường cho bị hại và tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền này. Xét thấy việc đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000 đồng của các bị cáo H, H1 đối với bị hại H3 hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được Tòa án cấp sơ thẩm xác nhận đã bồi thường xong là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại buộc các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 phải chịu 05% án phí dân sự trong vụ án hình sự (cụ thể: Bị cáo H phải chịu 4.000.000 đồng; bị cáo H1 phải chịu 1.000.000 đồng) đối với số tiền các bị cáo đã bồi thường cho bị hại là không đúng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về nghĩa vụ chịu án phí. Do vậy, Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 142/QĐ-VKSKV 11, ngày 03/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Phú Thọ theo hướng không buộc các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 phải chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự là có căn cứ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Do các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 không phải chịu án phí dân sự trong án hình sự nên số tiền án phí theo quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ các bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 26/11/2015 được hoàn trả lại theo quy định của pháp luật.
[6]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo của bị cáo Hà Văn H1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[7]. Về án phí: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Hà Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn H1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ.
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H1 phạm tội "Cướp tài sản".
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Văn H1 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hà Văn H1 cho UBND xã L, tỉnh Phú Thọ theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Hà Đức H và Hà Văn H1 không phải chịu án phí dân sự trong án hình sự; Bị cáo Hà Đức H được hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí số 0004352 ngày 26/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; bị cáo Hà Văn H1 được hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí số 0004349 ngày 26/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo Hà Văn H1 không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sơn |
Bản án số 119/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - cướp tài sản
- Số bản án: 119/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn H và đồng phạm, phạm tội Cướp tài sản
