Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/DS-PT

Ngày: 21/11/2025.

V/v: “Tranh chấp về

Kiện đòi tài sản"


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Ông Lê Ngọc Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2025/DSPT ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS -ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐ - PT ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Luyện Hữu K, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).

- Bị đơn: Ông Vũ Duy B, sinh năm 1955;

Địa chỉ: SN A T, KP T, Phường S, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty trách nhiệm hữu hạn P; (có mặt).

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Luyện Hữu K – Chức vụ: Giám đốc công ty.

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Tổng công ty Đ - Công ty cổ phần .

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Xuân T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Địa chỉ: Lô A, KCN L, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Bà Đỗ Thị D, sinh năm: 1986.

    Địa chỉ: SN A nhà H, khu C, phường H, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).

1

- Người kháng cáo: Bị đơn – ông Vũ Duy B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn - ông Luyện Hữu K trình bày:

Do có mối quan hệ họ hàng nên ông đã nhiều lần cho ông Vũ Duy B vay tổng số tiền là 626.750.000 đồng, với các lần cụ thể sau đây:

  • Lần 1: Ngày 25/8/2010 cho vay 400.000.000 đồng
  • Lần 2: Ngày 16/10/2012 cho vay 90.000.000 đồng
  • Lần 3: Ngày 08/3/2013 cho vay 50.000.000 đồng và vay trước tết âm lịch năm 2013 1000 lít dầu Diezen trị giá 21.750.000 đồng.
  • Lần 4: Ngày 14/3/2013 cho vay 50.000.000 đồng qua điện thoại và cô Đỗ Thị D là kế toán của ông B đã nhận tiền và chuyển lại cho ông B.
  • Lần 5: Ngày 13/7/2013 cho vay 15.000.000 đồng. Ông B đã viết và ký nhận vay tiền vào sổ cá nhân của ông K.

Các lần vay đều không tính lãi suất. Sau khi cho ông B vay, do cần tiền nên ông K đã nhiều lần yêu cầu ông B phải trả cho ông số tiền đã vay nhưng đến nay ông B vẫn chưa trả. Ông khởi kiện yêu cầu ông B phải trả cho ông tổng số nợ là 626.750.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Quá trình giải quyết vụ án, ông K rút yêu cầu về số tiền vay 50.000.000 đồng mà bà Đỗ Thị D đã nhận hộ cho ông B vào ngày 14/3/2025. Nay ông K chỉ yêu cầu ông B trả số tiền gốc đã vay là 576.750.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Vũ Duy B trình bày:

Do có mối quan hệ họ hàng, nên ông xác nhận có vay của ông Luyện Hữu K 576.750.000 đồng. Tuy nhiên, ông đã trả toàn bộ số tiền này bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Công ty P do ông Luyện Hữu K làm giám đốc. Cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 25/8/2010, ông có vay của ông K 400.000.000 đồng, nhưng số tiền này ông đã chuyển khoản trả cho ông K. Cụ thể: từ ngày 09/9/20210 đến ngày 12/5/2011, ông chuyển khoản vào Công ty TNHH P qua tài khoản số 102010000982456 tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 số tiền là 460.000.000 đồng. Như vậy, các lần này ông đã chuyển thừa cho ông K 60.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 16/10/2012, ông có vay của ông K số tiền 90.000.000 đồng. Số tiền vay này ông đã trả từ số tiền chuyển khoản thừa 60.000.000 đồng ngày 12/5/2011 và chuyển khoản thêm ngày 31/10/2012 với số tiền là 116.077.500 đồng.

2

Lần 3, lần 4: Số tiền ông vay của ông K 50.000.000 đồng vào ngày 08/3/2013, đến ngày 14/3/2013, cô D đã đến nhà ông K nhận hộ ông số tiền này. Vì vậy, ông chỉ vay một lần vào ngày 08/3/2013, chứ không phải vay thêm 50.000.000 đồng vào ngày 14/3/2013 như ông K đã trình bày. Số tiền nợ này ông đã trả qua chuyển khoản vào ngày 31/10/2012 như đã trình bày ở lần 2 vay tiền. Về số tiền 1000 lít dầu Diezen trị giá 21.750.000 đồng, ông cũng đã chuyển khoản qua ngân hàng đề trả số tiền dầu này như ở trên đã trình bày.

Lần 5: Ngày 13/7/2013, ông có vay ông K 15.000.000 đồng và ký vào sổ cá nhân của ông K. Số tiền 15.000.000 đồng ông đã khấu trừ vào số tiền ông K tính cho ông vay 02 lần vào ngày 14/3/2013 và ngày 08/3/2013, tổng là 100.000.000 đồng. Nhưng thực tế ông chỉ nợ 01 lần là 50.000.000 đồng, Số tiền này ông đã trả cho ông K, thậm chí ông K còn phải trả thêm cho ông 35.000.000 đồng nữa.

Như vậy, ông B thừa nhận có vay của ông K số tiền 576.750.000 đồng như ông K đã trình bày. Tuy nhiên, ông đã trả nợ cho ông K toàn bộ số tiền này. Hiện nay, ông không còn nợ ông K, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K. Số tiền ông đã trả nợ cá nhân cho ông K là nằm trong tổng số tiền 3.271.478.175đ mà Tổng công ty Đ đã chuyển khoản cho Công ty P. Đây là số tiền ông đã vay của Tổng công ty Đ chứng từ kèm theo giấy vay vốn và ủy nhiệm chi từng đợt có bản kê chuyển tiền cho Công ty TNHH P.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P trình bày:

Ý kiến của ông B là hoàn toàn không đúng, bởi vì đây là toàn bộ số tiền ông B thông qua Tổng công ty Đ chuyển khoản đến Công ty P là để thực hiện công việc kinh doanh, cụ thể là thực hiện các Hợp đồng thầu khoán giữa ông B và Công ty P. Việc chuyển khoản này đã được thể hiện tại bản án dân sự phúc thẩm số 43/2024/DS-PT, về việc “Tranh chấp hợp đồng thầu khoán” của TAND tỉnh Thanh Hóa giữa nguyên đơn: Công ty TNHH P và bị đơn: Ông Vũ Duy B. Ngày 16/7/2024, ông Vũ Duy B đã có Đơn đề nghị Giám đốc thẩm đối với bản án trên, ngày 11/02/2025 Tòa án nhân dân tôi cao đã có Thông báo số 64/TB-TANDCC-DS với nội dung: Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 43/2024/DS-PT của TAND tỉnh Thanh Hóa. Theo bản án phúc thẩm, ngoài số tiền ông B đã trả nợ thì ông B còn phải thanh toán thêm cho Công ty P số tiền 891.500.000đ. Như vậy, Số tiền chuyển khoản đến Công ty P như ông B đã trình bày hoàn toàn không liên quan gì đến việc trả nợ cá nhân giữa ông B và ông K.

Người làm chứng - bà Đỗ Thị D trình bày:

Bà không biết việc ông B vay nợ ông K. Bà chỉ biết ông B có nhờ bà nhận hộ ông 50.000.000 đồng của ông K đưa. Ngày 14/3/2013, bà nhận hộ ông B số tiền 50.000.000₫ do ông K đưa và bà đã giao lại số tiền 50.000.000đ này cho ông B.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 43/2024/DS-PT ngày 09/4/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng thầu khoán” của TAND tỉnh Thanh Hóa đã có hiệu lực pháp luật. Tổng công ty Đ - Công ty cổ phần đã trình bày về số tiền chuyển khoản cho Công ty TNHH P như sau: “Do ông Vũ Duy B và ông K ký hợp đồng thầu khoán với

3

nhau. Quá trình làm ăn ông Vũ Duy B phải vay tiền của Tổng Công ty Đ - công ty cổ phần V đề nghị Công ty chuyển tiền vào tài khoản cho ông K. Vì vậy, Tổng Công ty Đ - Công ty cổ phần đã chuyển tiền tại Ngân hàng N1 với số tiền là: 1.495.400.675đ và tại Ngân hàng C với số tiền là: 1.776.075.000đ. Tổng cộng là: 3.271.478.175đ cho ông K. Việc ký hợp đồng thầu khoán giữa ông B và ông K, công ty không sát sao mà chỉ biết chuyển tiền theo đề nghị của ông B. Nếu số tiền chuyển dư so với H đông thầu khoán thì yêu cầu ông K phải có trách nhiệm trả lại cho Công ty để Công ty làm nghĩa vụ đối trừ nợ cho ông B. Nội dung chuyển tiền tại các giấy ủy nhiệm chi là chuyển tiền hợp đồng thầu khoán”.

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 92; Khoản 2 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273, 280 BLTTDS; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Luyện Hữu K.

Buộc bị đơn ông Vũ Duy B phải trả cho nguyên đơn Ông Luyện Hữu K số tiền 576.750.000 đ (năm trăm bảy sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án, án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 24/9/2025, bị đơn - ông Vũ Duy B có đơn kháng cáo bản án nêu trên, với lý do ông đã có đơn xin hoãn phiên toà nhưng Toà án sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông, ông công nhận có vay của ông K số tiền 576.750.000 đ nhưng ông đã trả cho ông K toàn bộ số tiền này. Do vậy, ông B yêu cầu Toà cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo hướng huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS – ST ngày 20/8/2025 của TAND khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Toà án xem xét để đảm bảo quyền lợi cho ông.
  • - Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, việc ông cho ông B vay tiền đến nay chưa trả cho ông là sự thật. Ông đề nghị Toà án giữ nguyên bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi cho ông.
  • - Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P đề nghị Toà án không chấp nhận kháng cáo của ông B, vì giữa ông B và Công ty TNHH P có ký kết Hợp đồng thầu khoán và số tiền ông B chuyển khoản như ông B trình bày ở trên là để thanh toán cho các khoản tiền còn nợ của công ty theo các Hợp đồng thầu khoán, không phải trả nợ cho cá nhân ông K, hiện tại ông K đang còn nợ Công ty chưa trả hết.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá phát biểu quan điểm:

4

  • - Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vũ Duy B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn thấy rằng:

[2.1]. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm: Bị đơn cho rằng ông đã có đơn xin hoãn phiên toà nhưng Toà án sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông. Thấy rằng, ngày 14/7/2025, Toà án sơ thẩm đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 30/7/2025. Tuy nhiên, phiên toà hoãn đều với lý do: bị đơn có đơn xin hoãn phiên toà vì lý do sức khoẻ hoãn theo quyết định hoãn phiên toà ngày 30/7/2025 và quyết định hoãn phiên toà ngày 15/8/2025. Như vậy, Toà sơ thẩm đã hai lần hoãn phiên vì lý do bị đơn vắng mặt. Tại phiên toà ngày 20/8/2025, bị đơn tiếp tục xin hoãn phiên toà lần thứ ba với lý do ông đang cấp cứu tại Bệnh viện nhưng ông không xuất trình được các tài liệu chứng cứ thể hiện đang nằm viện, nên không có căn cứ để xem xét việc vắng mặt của ông B. Do vậy, Tòa án sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là đúng quy định theo điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Về chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ nội dung trình bày của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: ông Luyện Hữu K năm lần cho ông Vũ Duy B vay với tổng số tiền là 576.750.000 đồng, có viết giấy vay tiền, có chữ ký bên vay là ông Vũ Duy B. Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và các phiên hòa giải, ông B thừa nhận các giấy vay tiền là do ông ký và ông có vay ông B số tiền là 576.750.000 đồng nhưng ông đã trả hết số tiền vay cho ông K. Số tiền trả nợ được chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH P do ông Luyện Hữu K làm giám đốc, việc chuyển khoản trả nợ này được thông

5

qua Tổng công ty Đ đến tài khoản của Công ty TNHH P. Ngoài ra, ông B không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện việc trả nợ của ông đối với ông K.

Mặt khác, tại Bản án dân sự phúc thẩm số 43/2024/DS-PT ngày 09/4/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng thầu khoán” của TAND tỉnh Thanh Hóa đã thể hiện toàn bộ số tiền chuyển khoản như ông B trình bày ở trên là để thanh toán cho các khoản tiền còn nợ tại các Hợp đồng thầu khoán giữa ông Vũ Duy B và Công ty TNHH P, không liên quan đến việc trả nợ cá nhân của ông K và ông B. Tổng công ty Đ cũng đã thừa nhận toàn bộ số tiền chuyển khoản đến Công ty TNHH P là chuyển tiền cho Hợp đồng thầu khoán. Tại bản án này, ngoài số tiền ông B đã thanh toán thì ông B còn phải thanh toán thêm cho Công ty TNHH P số tiền là 891.500.000 đồng. Như vậy, xác định số tiền 576.750.000 đồng là khoản nợ cá nhân giữa ông B và ông K, ông K chưa trả cho ông B.

[2.2] Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nhận định bị đơn nợ nguyên đơn số tiền gốc là 576.750.000 đồng. Theo đó, Toà án cấp sơ thẩm giải quyết, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn – ông Vũ Duy B không có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, Thanh Hoá.

[2.3] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn – ông Vũ Duy B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do ông B là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – ông Vũ Duy B; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, Thanh Hoá;

Căn cứ Điều 166; Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Luyện Hữu K.

Buộc bị đơn ông Vũ Duy B phải trả cho ông Luyện Hữu K số tiền 576.750.000 đ (Năm trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)

6

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Vũ Duy B không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng ông B còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thanh toán xong.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Vũ Duy B được miễn án phí dân sự phúc thẩm

3. Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND khu vực 4;
  • - THADS tỉnh T;
  • - Đương sự; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA; Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Nga

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/DS-PT ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 115/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger