|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 112/2025/HS-PT Ngày 28/11/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Hoàng Hữu Tăng |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Kim Hằng |
| Bà Nguyễn Thị Hân |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Lương Xuân Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04 /2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T1 năm 1984; Giới tính: Nam
Nơi sinh, nơi thường trú, nơi ở: Thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Bố nuôi: Trần Văn Y năm 1939 (Đã chết năm 2001). Mẹ nuôi: Nguyễn Thị D năm 1943. Nghề nghiệp: Trồng trọt (Ngày 29/02/2024, Tòa án huyện  quyết định số 06 về việc không công nhận con nuôi). Vợ: Nguyễn Thị Đ năm 1991. Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo Trần Văn T2 áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thế H
Chị Trương Thị Đ1 mặt)
Đều trú tại: thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh H Luật sư Nguyễn Hưng T3- Luật sư thuộc Công ty L - chi nhánh T23(có mặt)
Địa chỉ: Phòng R, tầng E, số ANguyễn Công T2phường B, Quận A, TP Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị D năm 1943 (vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn H1sinh năm 1958 (có mặt)
Chị Nguyễn Thị Đ năm 1991 (có mặt)
Đều có địa chỉ tại: thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Trần Văn Y1, chết năm 2001 và bà Nguyễn Thị D1 thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên là vợ chồng nhưng không có con chung. Năm 1984, ông Y2 bà Dnhận Trần Văn T4 con nuôi. Vợ chồng bà D2 tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa số 401 có diện tích 402m² loại đất ONT và thửa số 402 có diện tích 114m² loại đất TSN, tại bản đồ số 6 đo năm 1997 tại thôn Đtên ông Trần Văn Y1
Ngày 23/6/2010, bà D3 "Giấy nhượng đất" cho anh Nguyễn Thế H1 phần quyền sử dụng đất có kích thước 04m đất bám mặt đường liên thôn chạy dài hết đất với số tiền 40.000.000 đồng. Trong giấy nhượng đất có chữ ký và viết tên Trần Văn T5 trong năm 2010, bà D4 trả nợ khoản vay 03 lượng vàng năm 1985 cho ông Nguyễn Văn H2 diện tích 4,5m đất bám mặt đường liên thôn chạy dài hết đất. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đều chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà D5 Hđã xây tường bao, trồng cây ăn quả trên diện tích đất đã mua và diện tích đất của ông H3 năm 2023, anh Hvà T6 xảy ra tranh chấp đối với diện tích đất bà D6 chuyển nhượng cho anh H4 ông H1Chiều các ngày 18, 19 và 20/12/2024, Trần Văn T7 có hành vi dùng gậy gỗ có kích thước dài 02m, một đầu có đường kính 0,10m, một đầu có đường kính 0,06m đập phá tường xây bao ngăn cách đất của bà D7 đất đã bán cho anh H4 dùng 01 dao mác bằng kim loại có kích thước dài 40cm, bản rộng 6,5cm chặt phá 09 cây Bưởi Diễn trị giá 12.450.000 đồng, 01 cây Hồng Xiêm trị giá 370.000 đồng, 01 cây Vú Sữa trị giá 220.000 đồng, 01 cây Vải trị giá 1.125.000 đồng, 01 cây Mít trị giá 220.000 đồng, 01 cây chuối trị giá 60.000 đồng (tổng cộng giá trị cây là 14.445.000 đồng), của anh H5 trồng. Thấy vậy, bà D6 báo cho anh H6. Anh H đi đến ngăn cản, thì bị T8 và dùng tay túm cổ áo đẩy anh H7 ngoài khu vườn. Ngày 20/12/2024, anh H8 đơn trình báo gửi Công an xã Q việc Tvà con trai là Trần Văn H2sinh năm 2009 có hành vi huỷ hoại tài sản của gia đình anh. Ngày 06/01/2025, anh H9 bầy Tcó giằng điện thoại Iphone 7 Plus của anh H10 cầm
trên tay và quăng xuống đất. Cùng ngày, Công an xã Q tiến hành kiểm tra thương tích của anh H11 định: trên người anh H8 một số vết bầm tím, trầy xước da ở cổ bên trái dài 3,5cm, rộng 0,2cm; 02 vết sây sước da ở cổ bên phải đều có kích thước dài 01cm, rộng 0,3cm; 01 vết sây sước da ở sau gáy dài 4cm, rộng 0,4cm.
Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2025 đến ngày 08/01/2025, T9 tục dùng dao mác trên chặt phá 02 cây Bưởi Diễn trị giá 1.710.000 đồng, 02 cây Na trị giá 260.000 đồng, 09 cây chuối trị giá 480.000 đồng (tổng cộng giá trị cây là 2.450.000 đồng) của anh H5 trồng trên diện tích đất anh H4 ông H1đã nhận chuyển nhượng của bà D8 dùng gậy gỗ trên đập phá tường xây bao ngăn cách đất của bà D7 đất đã bán cho anh H12 cộng Tđã hai lần có hành vi đập phá bức tường bao đất của anh H8 kích thước dài 7,65m (trong đó đoạn dài 03m cao 0,42cm, đoạn dài 4,65m cao 1,1m). Đến chiều ngày 12/3/2025, T9 tục dùng 01 dao có kích thước dài 34cm, trong đó thân dao dài 21cm, bản rộng 9,5cm, chuôi dao bằng gỗ tròn dài 13cm, đường kính 03cm chặt phá 01 cây sưa đỏ (trị giá 120.000 đồng) tại vườn của gia đình anh HKhi anh H13 khu vườn ngăn cản thì T10 01 đoạn ống nhựa có kích thước dài 114cm, một đầu có đường kính 04cm, một đầu có đường kính 03cm dọa và chửi bới, túm cổ áo đẩy anh H7 ngoài. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lập biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối anh H11 định: tại vùng cổ vai bên trái có 01 dấu vết tấy đỏ dài 2,5cm rộng 01cm.
Ngày 10/02/2025 và ngày 17/3/2025, Trần Văn T11 nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra: 01 gậy gỗ (có kích thước dài 02m, một đầu có đường kính 0,10m, một đầu có đường kính 0,06m); 01 dao mác có kích thước dài 40cm, bản rộng 6,5cm; 01 đoạn ống nhựa có kích thước dài 114cm, một đầu có đường kính 04cm, một đầu có đường kính 03cm; 01 dao có kích thước dài 34cm trong đó thân dao dài 21cm, bản rộng 9,5cm, chuôi dao bằng gỗ tròn dài 13cm, đường kính 03cm.
Ngoài ra, anh H14 trình bày tại cổng ra vào thửa đất bị mất 01 khóa móc bằng đồng ghi chữ V– Tiệp, hiện được thay bằng 01 khóa dây màu xanh.
Tại biên bản xác định thiệt hại về tài sản của gia đình anh H15 theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/3/2025 xác định có: 01 đoạn tường bao dài 7,65m xây bằng gạch chỉ đỏ, xi măng cát đen không chát vữa bên ngoài (trong đó đoạn dài 03m cao 0,42cm, đoạn dài 4,65m cao 1,1m) bị đập đổ; 27 cây ăn quả (gồm 11 cây bưởi diễn, 01 cây vải, 01 cây vú sữa, 02 cây na, 01 cây hồng xiêm, 01 cây mít, 10 cây chuối); 01 khóa móc bằng đồng, thân khóa in chữ V– Tiệp. Tại bản kết luận giám định số 65/KL- KTHS ngày 09/3/2025 của Phòng KCông an tỉnh Hkết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết đứng tên
Trần Văn T12 mục: "Bên bán" trên mẫu giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của ông Trần Văn T13 các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 có phải do cùng một người ký, viết ra hay không. H3lại đối tượng giám định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL- HĐĐG ngày 10/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Â: Cvật liệu xây đoạn tường bao dài 7,65m có giá là 2.231.000 đồng (trong đó đoạn dài 03m cao 0,42cm có giá là 441.000 đồng; đoạn dài 4,65m cao 1,1m có giá là 1.790.000 đồng); 01 khóa móc bằng đồng, đã qua sử dụng có giá là: 0 đồng; 11 cây Bưởi Diễn được đánh số trên sơ đồ lần lượt là: Số 02, cây Bưởi Diễn đường kính 09cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 04, cây Bưởi Diễn đường kính 18cm có giá là 1.920.000 đồng; Số 05, cây Bưởi Diễn đường kính 06cm có giá là 330.000 đồng; Số 06, cây Bưởi Diễn đường kính 11cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 07, cây Bưởi Diễn đường kính 07cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 08, cây Bưởi Diễn đường kính 12cm có giá là 1.920.000 đồng; Số 09, cây Bưởi Diễn đường kính 11cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 10, cây Bưởi Diễn đường kính 09cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 12, cây Bưởi Diễn đường kính 10cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 03, cây Bưởi Diễn đường kính 10cm có giá là 1.380.000 đồng; Số 26, cây Bưởi Diễn đường kính 04cm có giá là 330.000 đồng; 01 cây Vú Sữa đánh số 25 trên sơ đồ đường kính 03cm có giá là 220.000 đồng; 01 cây Vải đánh số 27 trên sơ đồ đường kính 06cm có giá là 1.125.000 đồng; 01 cây Mít đánh số 11 trên sơ đồ đường kính 06cm có giá là 220.000 đồng; 01 cây Hồng Xiêm đánh số 18 trên sơ đồ đường kính 08cm có giá là 370.000 đồng; 02 cây Na được đánh số trên sơ đồ lần lượt là: Cây Na đánh số 01 trên sơ đồ đường kính 02cm có giá là 130.000 đồng; Cây Na đánh số 24 trên sơ đồ đường kính 04cm có giá là 130.000 đồng; 10 cây chuối được đánh số trên sơ đồ lần lượt là: Số Acây chuối có đường kính 17cm có giá là 60.000 đồng; Số 14, cây chuối có đường kính 13cm có giá là 60.000 đồng; Số 15, cây chuối có đường kính 17cm có giá là 60.000 đồng; Số Acây chuối có đường kính 21cm có giá là 60.000 đồng; Số 17, cây chuối có đường kính 14cm có giá là 60.000 đồng; Số 19, cây chuối có đường kính 10cm có giá là 60.000 đồng; Số 20, cây chuối có đường kính 17cm có giá là 60.000 đồng; Số 21, cây chuối có đường kính 18cm có giá là 60.000 đồng; Số 22, cây chuối có đường kính 06cm có giá là 30.000 đồng; Số 23, cây chuối có đường kính 08cm có giá là 30.000 đồng. Tổng cộng: 19.126.000 đồng (Mười chín triệu một trăm hai sáu nghìn đồng). Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL- HĐĐG ngày 28/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Â: 01 cây gỗ sưa có đường kính thân gốc 14cm có giá là 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng)
Quá trình điều tra, bị cáo cho rằng thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Y3 bị cáo có quyền đối với thửa đất này và không đồng ý việc bà D9 nhượng quyền sử dụng đất cho anh H4 ông H16 nhiên, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp khách quan với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ; biên bản xác định thiệt hại; kết luận định giá tài sản; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng: Đối với 01 gậy gỗ có kích thước dài 02m, một đầu có đường kính 0,10m, một đầu có đường kính 0,06m; 01 dao mác có kích thước dài 40cm, bản rộng 6,5cm; 01 dao có kích thước dài 34cm trong đó thân dao dài 21cm, bản rộng 9,5cm, chuôi dao bằng gỗ tròn dài 13cm, đường kính 03cm hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh HKhu vực Ân Thi; Đối với 01 đoạn ống nhựa có kích thước dài 114cm, một đầu có đường kính 04cm, một đầu có đường kính 03cm không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, ngày 29/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Anh H17 cầu bị cáo T22 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản bị cáo đã hủy hoại cho anh.
Quá trình điều tra không có căn cứ xác định Trần T14 H4có hành vi hủy hoại tài sản của gia đình anh Hvà T15 có hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng đối với điện thoại của anh H20 không xem xét xử lý.
Đối với thương tích của anh H18 10/4/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe, nhưng anh H25 có mặt để giám định tỷ lệ thương tích, nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 04 /2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38; điểm a khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Tphạm T16 hủy hoại tài sản
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T17 (chín) tháng tù, thời gian tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10 tháng 09 năm 2025 anh Nguyễn Thế H19 Trương Thị Đ1kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo T20
Ngày 11 tháng 9 năm 2025 bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo Trần Văn T; anh Nguyễn Thế H19 Trương Thị Đ1giữ nguyên nội dung kháng cáo. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh H11 định bản án sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng mà cần áp dụng điểm d, e, và o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo để xử bị cáo mức án cao nhất của khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về Tội hủy hoại tài sản, theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt Trần Văn T 09 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo, bị hại đều không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Trần Văn T; bị hại: anh Nguyễn Thế H19 Trương Thị Đ1kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp pháp.
[2] Về nội dung
[2.1] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra; đồng thời phù hợp lời khai của người bị hại và lời khai người làm chứng, biên bản định giá thiệt hại về tài sản cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; đã đủ cơ sở kết luận: Do có tranh chấp đất đai giữa Trần Văn T18 gia đình anh Nguyễn Thế H20 trong các ngày 18,19 và ngày 20/12/2024, Trần Văn T7 có hành vi dùng gậy gỗ đập phá tường xây bao đất của gia đình anh H4 dùng dao mác bằng kim loại chặt phá 09 cây Bưởi Diễn, 01 cây Hồng Xiêm, 01 cây Vũ Sữa, 01 cây Vải, 01 cây Mít, 01 câu Chuối (tổng
giá trị cây là 14.445.000 đồng). Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2025 đến ngày 08/01/2025 Ttiếp tục dùng gậy gỗ đạp phá tường xây bao đất và dùng dao mác chặt phá 02 cây Bưởi Diễn, 02 cây Na, 09 cây Chuối (tổng giá trị cây là 2.450.000 đồng) của anh H12 giá trị bức tường bao bị Tđạp phá là 2.231.000 đồng. Ngày 12/03/2025 Ttiếp tục dùng dao bằng kim loại chặt phá 01 cây sưa (trị giá 120.000 đồng). Tổng trị giá thiệt hại về tài sản do T19 ra cho gia đình anh H21 19.246.000 đồng. Bởi hành vi trên, bị cáo Trần Văn T đã bị Toà án nhân khu vực 1, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm về Tội hủy hoại tài sản, theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T15 xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo 9 tháng tù là phù hợp. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không cơ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[2.3] Xét kháng cáo của người bị hại tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm b, s và phải áp dụng điểm d, e và o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình điều tra bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho người bị hại, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và gia đình bị cáo đã mang số tiền 10.000.00₫ bồi thường cho anh H22 nhiên anh H25 nhận. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bản án sơ thẩm đã áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với các tình tiết tăng nặng mà luật sư để nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Xét thấy xuất phát từ việc mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai kéo dài trước đó nên bị cáo đã có hành vi chặt phá cây trồng của anh H Nên bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chặt phá cây trồng của anh H23 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết phạm tội hai lần trở lên, nên bị cáo không phải áp dụng tình tiết “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra luật sư đề nghị áp dụng thêm tình tiết “Xúi giục
người chưa thành niên phạm tội”, xét thấy quá trình điều tra không xác định cháu H24(con bị cáo) chưa thành niên tham gia vào việc chặt cây cùng bị cáo, nên quan điểm trên của luật sư không có cơ sở chấp nhận.
Như phân tích tại mục [2.2] trên tại phiên tòa bị cáo không có thêm tình tiết tăng nặng mới, nên kháng cáo tăng hình phạt với mức cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo cũng không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Như vậy quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và người bị hại là phù hợp.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T20 Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Hưng Yên.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T21 tội “Tội hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38; điểm a khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T17 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T22 chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Anh Nguyễn Thế H25 phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hữu Tăng |
Bản án số 112/2025/HS-PT ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tội hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 112/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội hủy hoại tài sản
