Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HS-ST

Ngày: 30/09/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Xuân Hoa.

Ông Vũ Ngọc Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội; địa chỉ: Số D T, phường H, thành phố Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/HSST ngày 11 tháng 09 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phương N, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2001 tại tỉnh Thái Bình; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Nay là Thôn P, xã L, tỉnh Hưng Yên); Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa. Tiền án: Không; tiền sự: Không; D chỉ bản số: 96 ngày 04/02/2025 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Lê Ngọc T, sinh năm: 1986; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Số H, ngõ B, Phố Chợ K, phường V, Thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1968; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (Nay là Thôn P, xã L, tỉnh Hưng Yên).
  2. Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1984; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: 3A6 TT T, phường Ô, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 4 năm 2024, Nguyễn Phương N, sinh năm: 2001; HKTT: Thôn P, Minh T1, H, Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên) thuê 01 xe ô tô Carnival BKS 30L-004.93 của Công ty Cổ phần T3, địa chỉ tại N, thành phố Hà Nội, mục đích để đi lại. Khoảng 3 ngày sau, do cần tiền, Phương N đã cầm cố chiếc xe ô tô nêu trên cho anh Nguyễn Xuân Đ; sinh năm: 1984; đăng ký thường trú: 3A6, TT T, H, Đ, Hà Nội (nay là phường Ô, thành phố Hà Nội) là người quen biết xã hội để lấy 300.000.000đồng. Anh Đ yêu cầu mang xe đến nhà ông Dương Văn O, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố G, TT Đồi N, L, Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) là người quen của Đ để gửi nhờ chiếc xe nêu trên. Việc cầm cố giữa Nguyễn Phương N và Nguyễn Xuân Đ không có giấy tờ gì. Ngày 10/5/2024, đến hạn trả xe Carnival, do không có tiền chuộc xe nên Phương N đã lên mạng xã hội để tìm thuê xe, mục đích bán cho anh Đ để lấy chiếc xe Carnival BKS 30L-004.93 ra. Trên mạng xã hội Phương N hỏi thuê được 01 chiếc xe ô tô MG5 màu đỏ BKS 30K-633.75 của chị Lê Ngọc T, sinh năm: 1986; đăng ký thường trú tại: Số H ngõ B Chợ K, T, Đ, Hà Nội (nay là phường V - Q, thành phố Hà Nội). Sáng cùng ngày, Phương N đón Nguyễn Thành N1, sinh năm: 2005; đăng ký thường trú: Q, Minh T1, H, Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Tiến Đ1, sinh năm: 2005; đăng ký thường trú: Q, Minh T1, H, Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên) đều là họ hàng của Phương Nam từ từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh về Hà Nội. Trên đường đi Phương N nói với Thành N1 và Tiến Đ1 về việc 01 chiếc xe ô tô Phương Nam đang thuê đã hết hạn thuê, cần thuê 01 chiếc xe ô tô khác để thế vào. Đ1 và Thành N1 nói sẽ hỗ trợ Phương N đặt lại giấy tờ, tiền đặt cọc nếu cần. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực đầu ngõ A phố N, thành phố Hà Nội, Phương N cùng Đ1 và Thành N1 đến gặp chị T để nhận xe. Tại đây, hai bên thông nhất: Chị T cho N1 thuê chiếc xe ô tô hiệu MG5 màu đỏ, BKS 30K-633.75 trong thời gian từ 10h30phút ngày 10/5/2024 đến 21h00phút ngày 12/5/2024, với mức giá 3.000.000đồng. Do không mang theo căn cước công dân, theo yêu cầu của chị T phải đưa căn cước công dân người đi cùng để làm tin, Phương N đã gửi lại căn cước công dân của Nguyễn Thành N1 và đặt cọc số tiền 30.000.000đồng. Sau đó, Chị T bàn giao xe cùng các giấy tờ liên quan, bao gồm: 01 đăng kiểm (bản chính), 01 bảo hiểm bắt buộc (bản chính) và 01 giấy đăng ký xe có xác nhận của ngân hàng V (chị T thế chấp chiếc xe ô tô MG5 để vay vốn tại ngân hàng V. Ban K1), 01 bản phô tô công chứng căn cước công dân của chị T và lập một hợp đồng thuê xe có chữ ký của chị T và Nguyễn Phương N.

Sau khi thuê xe, Phương N điều khiển xe ô tô đi khoảng 3km thì Phương N tháo Camera hành trình của xe, Thành N1 và Đ1 hỏi lý do, Phương N trả lời để tránh chủ xe theo dõi. Sau đó, Phương N liên hệ với anh Đ để bán chiếc xe ô tô MG5 màu sơn đỏ BKS 30K-633.75 vừa thuê của chị T với giá 300.000.000đồng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, anh Đ và Phương N gặp nhau ở khu vực Cầu T, Hà Nội. Tại đây, Đ1 và Thành N1 ngồi trên xe còn Phương N xuống xe giao dịch với Đ, Phương N viết giấy biên nhận bán xe nhận cọc 200.000.000đồng và hẹn 30 ngày sau Phương N sẽ bàn giao giấy tờ gốc chiếc xe ô tô MG 5 nêu trên cho anh Đ và anh Đ trả Phương Nam nốt số tiền 100.000.000đồng. Quá trình thoả thuận mua bán, anh Đ không biết chiếc xe ô tô MG5 màu sơn đỏ BKS 30K-633.75 do Phương Nam thuê. Sau đó, tất cả cùng di chuyển đến nhà ông Dương Văn O tại TT Đồi N2, L, Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) để Phương Nam bàn giao chiếc xe ô tô MG5 màu đỏ, BKS: 30K-633.75 cho anh Nguyễn Xuân Đ. Tại đây, Phương N gửi lại cho anh Đ số tiền 100.000.000đồng, trong đó 30.000.000đồng chuyển khoản, còn 70.000.000đồng bằng tiền mặt. Số tiền 200.000.000đồng còn lại trong tổng số 300.000.000đồng mà Phương N đã nhận từ anh Đ trước đó (khi cầm cố xe Carnival) được coi là tiền đặt cọc cho việc mua bán chiếc xe hiệu MG5. Sau khi hoàn tất giao dịch, anh Nguyễn Xuân Đ đã dùng xe ô tô bán tải chở Phương N, Nguyễn Thành N1 và Nguyễn Tiến Đ1 quay trở lại Hà Nội. Phương Nam có cho Nguyễn Tiến Đ1 khoảng 6.000.000đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản cho Nguyễn Tiến Đ1 với số tiền khoảng 14.000.000đồng. Số tài khoản gửi là 085550956 chủ tài khoản Nguyễn Phương N, số tài khoản nhận là 2809200566666 (mở tại ngân hàng M1 bankchủ tài khoản Nguyễn Tiến Đ1.

Tối ngày 10/5/2024, chị T phát hiện định vị trên xe bị cắt và không liên lạc được với N. Ngày 11/5/2024, chị T liên hệ qua Facebook với Phương N và được trả lời rằng xe đang gửi tại Bắc Giang nhưng N không cung cấp hình ảnh hay vị trí cụ thể. Chiều ngày 11/5/2024, ông O gửi 01 chiếc ô tô nhãn hiệu MG5 mầu sơn đỏ, BKS 30K – 633.75 tại nhà ông Hoàng Văn H, sinh năm 1977, Trú tại: Thôn A, xã Y, L, Bắc Giang (nay là xã B, tỉnh Bắc Ninh). Đến tối 12/5/2024 (hết thời hạn thuê xe), chị T phát hiện xe đang ở nhà ông Hoàng Văn H tại xã Y, huyện L, Bắc Giang. Sau đó chị T đã trình báo cơ quan công an để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5, màu sơn đỏ, BKS: 30K-633.75; số khung: MMLA36U32NG040460; số máy: 15S4C5QTNB160047 thu giữ của Dương Văn O; 01 giấy biên nhận bán xe; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 thu giữ của Nguyễn Tiến Đ1. Kết luận giám định số 3975/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng Kỹ Công an thành phố H, kết luận: Số khung MMLA36U32NG040460; Số máy: 15S4C5QTNB160047 của chiếc xe ô tô trên là nguyên thủy. Kết luận định giá tài sản số 150/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2024 của Hôi đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: 01 xe ôtô nhãn hiệu MG5, BKS: 30K 633.75; Số khung: MMLA36U32NG040460; Số máy: 1554C5QTNB160047, tài sản đã qua sử dụng trị giá 360.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 5999/KL-KTHS ngày 22/008/2024 và kết luận số 3911/KL-KTHS ngày 14/07/2025 của Phòng K2 xác định: Chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Phương N (dưới chữ ký) trên Giấy biên nhận bán xe ô tô BKS 30K-633.75 đứng tên Nguyễn Phương N đề ngày 10/05/2024 (do anh Nguyễn Xuân Đ cung cấp) với chữ viết chữ ký trên tờ khai căn cước công dân, Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân của Nguyễn Phương N (do phòng PC06 – Công an tỉnh T cung cấp) và Bản tự khai/tường trình của do Nguyễn Phương N viết tại cơ quan công an là chữ do cùng một người viết và ký ra. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Phương N (dưới chữ ký) trên Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái (do chị Lê Ngọc T cung cấp) có phải là là chữ do cùng một người viết và ký ra hay không?

Đối với hành vi của Nguyễn Thành N1 và Nguyễn Tiến Đ1 đã bàn bạc, giúp đỡ Nguyễn Phương N trong việc thuê chiếc xe ô tô hiệu MG5, BKS 30K-633.75; Thành Nam và Tiến Đ1 khai nhận mục đích của việc thuê xe để thay thế cho chiếc xe ô tô khác mà Phương N đang cầm cố, nhằm lấy xe ra do đã hết thời hạn thuê; Thành Nam và Đ1 không biết, không tham gia bàn bạc gì về việc Phương N bán xe cho Nguyễn Xuân Đ. Ngoài ra, Phương N đã đưa cho Thành N1 7.000.000đồng và Tiến Đ1 20.000.000đồng. Hiện Cơ quan điều tra chưa triệu tập được Nguyễn Thành N1 để lấy lời khai làm rõ các tình tiết liên quan. Ngoài ra lời khai anh Nguyễn Xuân Đ hiện đang mâu thuẫn với lời khai của Nguyễn Phương N. Tại Cơ quan điều tra, anh Đ trình bày: Nguyễn Phương N 02 lần bán xe cho anh Đ đều nói là xe thuộc sở hữu hợp pháp của Phương N, do tin tưởng nên anh Đ đồng ý mua xe mâu thuẫn với lời khai của Phương N về việc Phương N cầm cố 01 xe ô tô Carnival BKS 30L-004.93 cho anh Đ để lấy 300.000.000đồng. Hiện anh Đ vắng mặt tại nơi cư trú, không triệu tập được để lấy lời khai làm rõ. Ngày 14/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Thành N1, và Nguyễn Tiến Đ1 để tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe ô tô hiệu MG5 màu đỏ BKS 30K-633.75, số khung: MMLA36U32NG040460; Số máy:15S4C5QTNB160047 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Lê Ngọc T, sinh năm: 1986, đăng ký thường trú: Số H ngõ B Chợ K, T, Đ, Hà Nội; xác minh dữ liệu xe tang vật tại phòng PC02 – C, kết quả: không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. Ngày 23/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu đối với chiếc xe ô tô trên bằng hình thức trao trả lại cho chị Lê Ngọc T là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của Nguyễn Tiến Đ1 Cơ quan điều tra chuyển cùng các tài liệu có liên quan để tiếp tục xác minh, điều tra xử lý theo quy định pháp luật; 01 Giấy bán xe được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bị hại chị Lê Ngọc T đã nhận lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5 màu đỏ BKS: 30K-633.75 và người liên quan là anh Nguyễn Xuân Đ đã nhận 200.000.000đồng tiền bồi thường của gia đình Nguyễn Phương N khắc phục hậu quả. Chị T và anh Đ không có yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự gì khác.

Bản cáo trạng số 71/CT -VKS ngày 9/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội đã truy tố Nguyễn Phương N về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2025. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền khắc phục hậu quả và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.

Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Cuối tháng 4 năm 2024, Nguyễn Phương N thuê xe chiếc ô tô Carnival BKS 30L - 004.93 của Công ty Cổ phần T3 mục đích để đi lại. Do cần tiền tiêu xài nên Phương N đã mang chiếc xe nêu trên cầm cố cho anh Nguyễn Xuân Đ để lấy 300.000.000đồng. Ngày 10/5/2024, đến hạn trả chiếc xe ô tô Carnival BKS 30L-004.93, do không có tiền chuộc xe nên Phương N đã nảy sinh ý định lên mạng tìm thuê xe để bán. Cùng ngày, Phương N tìm và thuê được 01 xe ô tô MG5 BKS 30K-633.75 của chị Lê Ngọc T. Sau khi thuê xe, Phương N điều khiển xe rồi tháo thiết bị định vị và bán lại cho anh Nguyễn Xuân Đ với giá 300.000.000đồng. Hội đồng định giá trong tố tụng kết luận chiếc xe nêu trên trị giá 360.000.000đồng. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Phương N đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô hiệu MG5 BKS 30K-633.75 trị giá 360.000.000đồng của bị hại là chị Lê Ngọc T. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Phương N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan và đúng theo quy định của pháp luật.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải, bố bị cáo là ông Nguyễn Trung K đã khắc phục hậu quả cho bị cáo. Đó là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nhưng có phần nghiêm khắc, do vậy Hội đồng xét xử đưa ra mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

[4]. Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền khắc phục hậu quả và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phương N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Phương N: 08 (T2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2025.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền khắc phục hậu quả và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.

Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 3-Hà Nội.
  • - VKS TP. Hà Nội
  • - Công an thành phố Hà Nội
  • - Bị cáo.
  • - Lưu./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 111/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger