|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 12-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thủy, bà Đoàn Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1- thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, thông báo về việc mở lại phiên tòa số 89/2025/TB-TA ngày 10 tháng 11 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 105/2025/HSST-QĐ ngày 25/11/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1994 tại thành phố Hà Nội; giới tính: Nữ; CCCD số 046194016413 do Cục trưởng Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 06/9/2023; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ H, Khu V, phường A, thành phố H; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Đặng Đình T1 (đã chết) và con bà Trịnh Thị L; có chồng nhưng đã ly hôn; có 02 con sinh năm 2016 và 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 23/11/2024 được trả tự do; bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến ngày 22/01/2025 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Trương Thị Ngọc Á, sinh năm 1990; địa chỉ: Kiệt A Tổ dân phố C, phường V, thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Anh P, sinh năm 1993; địa chỉ: Lô D, phường H, thành phố H; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Người làm chứng: Bà Hồ Thị C; sinh năm 1966; địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền kinh doanh nên ngày 25/02/2024 chị Trương Thị Ngọc Á đã liên hệ với Đặng Thị T để vay số tiền 120.000.000 đồng. Để đảm bảo niềm tin thì chị Á cầm cố thửa đất do mình đứng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL399699, diện tích 119 m2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thị xã H (nay thuộc phường V, thành phố H) cho T. Hai bên thỏa thuận chị Á sẽ ký công chứng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho T, đồng thời, chị Á và T viết giấy giao nhận tiền cam kết sau khi chị Á trả lại tiền vay và lãi sau 03 tháng kể từ ngày vay thì T phải hủy hợp đồng công chứng và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Á. Sau đó, chị Á viết giấy mượn tiền với nội dung: “Hôm nay ngày 26/02/2024 tôi có mượn số tiền 120.000.000 đồng, tôi có ký chuyển nhượng lô đất CL399699 để làm tin cho chị Đặng Thị T. Sau khi thanh toán số tiền 120.000.000 đồng chị T phải hủy hợp đồng công chứng. Thời gian: 03 tháng kể từ ngày 26/02/2024”, chị Á và T đều ký vào giấy này. Liền sau đó, tại Phòng C1, thành phố H, chị Á ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 577 quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HDGD ngày 26/02/2024 cho Đặng Thị T. Ký xong giấy tờ, T chuyển cho chị Á số tiền 116.000.000 đồng (trừ tiền lãi trước 4.000.000 đồng). Sau khi nhận hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì T làm thủ tục sang tên trước bạ qua tên mình để thuận lợi cho việc định đoạt nếu cần. Ngày 04/3/2024, thủ tục hoàn thành, Trung tâm đăng ký đất đai thành phố H thay đổi tên người sử dụng đất thành Đặng Thị T, sinh năm 1994, địa chỉ tại: 8 T, phường T, thành phố H theo hồ sơ số 000279.CN001, việc chuyển tên này chị Trương Thị Ngọc Á không biết.
Do Đặng Thị T thiếu nợ tiền vay và tiền lãi của chị Đặng Thị Anh P nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt thửa đất của chị Á bằng hình thức ủy toàn quyền cho chị P để trừ nợ và lấy thêm tiền. Ngày 20/5/2024, T viết giấy mượn số tiền 1.470.000.000 đồng với nội dung: “..tôi tự nguyện cầm cố tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CL399699 thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 01, diện tích 119 m2, tại thôn C, phường V, thành phố H bằng hình thức ủy quyền toàn phần cho chị P, thời hạn 03 tháng kể từ ngày ký”, đồng thời ký Hợp đồng ủy quyền cho chị P với thời hạn ủy quyền 01 năm, giao hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên Đặng Thị T cho chị P cất giữ. Cùng ngày, chị P 02 lần chuyển vào tài khoản OCB 968688 của T và đưa tiền mặt cho T với tổng số tiền là 792.200.000 đồng, số tiền còn lại trừ vào khoản nợ 408.000.000 đồng trước đó, còn lại 270.000.000 đồng là tiền lãi thế chấp thửa đất mà P tính trước và ghi vào giấy mượn tiền. Nhận tiền xong, T cắt đứt liên lạc với chị Á, vào thành phố Đà Nẵng sinh sống.
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/5/2024 đến ngày 26/5/2024, chị Á nhiều lần liên lạc với T qua điện thoại di động, tin nhắn SMS, Z để trả tiền vay lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được vì T đã chặn cuộc gọi và tin nhắn. Ngày 26/5/2024, chị Trương Thị Ngọc Á làm đơn trình báo Cơ quan điều tra Công an Thành phố H (PC02).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS, ngày 21/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố H, kết luận: Thửa đất diện tích 119 m2, tại thôn C, xã T, thị xã H (nay thuộc phường V, thành phố H) tại thời điểm tháng 5 năm 2024 có giá trị 476.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của chị Trương Thị Ngọc Á: 01 giấy mượn tiền ngày 26/02/2024 ký tên Ánh và T; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/02/2024 có chứng thực của Phòng C1, thành phố H; 30 tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn Zalo; 13 tờ giấy A4 có nội dụng tin nhắn SMS từ số điện thoại 0762152524 của T;
Thu giữ của chị Đặng Thị Anh P: 01 giấy mượn tiền ngày 20/5/2024 ký tên chị P và T; 01 hợp đồng ủy quyền ngày 20/5/2024 có công chứng của Phòng C2, thành phố H;
Thu giữ của chị Đặng Thị T: 01 điện thoại di động XR màu đỏ, số IMEI 353059107150251 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động 12 Pro max, số IMEI 354703754894435 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 màu đen, số IMEI 354035902726858 đã qua sử dụng; 01 xe ô tô hiệu Honda HRV biển số 75A-32430 đã qua sử dụng và 24.800.000 đồng tiền Việt Nam của chị T.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã trả lại cho Đặng Thị T tài sản riêng không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 xe ô tô hiệu Honda HRV biển số 75A-32430 và số tiền 24.800.000 đồng tiền Việt Nam;
- Đưa vào hồ sơ vụ án các tài liệu trích xuất tin nhắn: 30 tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn Zalo; 13 tờ giấy A4 có nội dụng tin nhắn SMS từ số điện thoại 0762152524 của T;
- Các vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế để đảm bảo việc xét xử, gồm: 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL399699, diện tích 119 m2, tại thôn C, xã T, thị xã H (nay thuộc phường V, thành phố H); 01 điện thoại di động XP màu đỏ, số IMEI 353059107150251; 01 điện thoại di động 12 Pro max màu trắng, số IMEI 354703754894435; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 màu đen, số IMEI 354035902726858.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 25/3/2025, bị cáo Đặng Thị T đã trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đặng Thị Anh P số tiền 1.200.000.000 đồng, chị P không có yêu cầu gì thêm; bị cáo T đã bồi thường cho bị hại Trương Thị Ngọc Á số tiền 16.000.000 đồng chi phí và lệ phí sang tên trước bạ lại thửa đất bị chiếm đoạt (để thay đổi lại tên người sử dụng đất hợp pháp là Trương Thị Ngọc Á); chị Á đã trả lại 116.000.000 đồng tiền vay cho T và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSTTH-P2 ngày 21 tháng 8 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3, Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm theo Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam;
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước công cụ phạm tội: 01 điện thoại di động 12 Pro max màu trắng, số IMEI 354703754894435;
- + Trả lại cho chủ sở hữu chị Trương Thị Ngọc Á 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL399699;
- + Trả lại cho Đặng Thị T: 01 điện thoại di động XP màu đỏ, số IMEI 353059107150251; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 màu đen, số IMEI 354035902726858.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo xin lỗi bị hại, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; lời khai của bị cáo, bị hại phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/5/2024 tại phường T, thành phố H, Đặng Thị T sau khi nhận được tài sản là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL399699, diện tích 119 m2, tại thôn C, phường V, thành phố H của chị Trương Thị Ngọc Á trị giá 476.000.000 đồng bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 26/02/2024 để đảm bảo cho khoản vay 120.000.000 đồng của chị Á trong thời hạn 03 tháng, tuy nhiên, khi chưa đến thời hạn chị Á phải trả nợ, thì T đã tự ý gian dối định đoạt tài sản khi chưa được sự đồng ý của chị Á bằng cách ủy toàn quyền cho chị Đặng Thị Anh P đối với thửa đất để trừ tiền bị cáo còn nợ của chị P và lấy thêm tiền với tổng số tiền là 1.470.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt thửa đất trên của chị Á, T bỏ đi khỏi địa phương và cắt đứt liên lạc với chị Á. Do trước đó chị Á có nhận của T số tiền 116.000.000 đồng nên giá trị tang số tài sản (thửa đất) chiếm đoạt mà T phải chịu là 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).
Như vậy, hành vi nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản trị giá 360.000.000 đồng của Đặng Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Đặng Thị T theo tội danh và điều khoản viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đặng Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình chứng cứ đang mang thai trên 27 tuần tuổi của cơ sở y tế. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Bồi thường thiệt hại; người phạm tội là phụ nữ có thai; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên được áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện phạm tội: 01 điện thoại di động 12 Pro max màu trắng, số IMEI 354703754894435;
- - Trả lại cho chủ sở hữu có quyền sử dụng đất hợp pháp là chị Trương Thị Ngọc Á 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL399699 (Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (cũ) cấp ngày 26/10/2020, thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, diện tích 119m² tại Thôn C, phường V, thành phố H);
- - Trả lại cho Đặng Thị T: 01 điện thoại di động XP màu đỏ, số IMEI 353059107150251; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 màu đen, số IMEI 354035902726858 do không liên quan đến hành vi phạm tội;
(Các vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1- Huế).
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- - Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 23/11/2024 và thời gian đã bị tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến ngày 22/01/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện phạm tội: 01 điện thoại di động 12 Promax, số IMEI 354703754894435 của Đặng Thị T;
- - Trả lại cho bị hại Trương Thị Ngọc Á 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL399699, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (cũ) cấp ngày 26/10/2020, thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, diện tích 119m² tại Thôn C, phường V, thành phố H (Chị Trương Thị Ngọc Á là người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với quyền sử dụng đất nêu trên);
- - Trả lại cho Đặng Thị T: 01 điện thoại di động XP màu đỏ, số IMEI 353059107150251; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 màu đen, số IMEI 354035902726858 do không liên quan đến hành vi phạm tội;
(Các vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1- Huế).
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Thảo
