|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH Bản án số: 110/2025/HNGĐ - ST Ngày: 29 - 9 - 2025 V/v: ly hôn giữa anh H và chị H1 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Mạnh Toàn.
- Bà Dương Thị Vui.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2025/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63A/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa:
* Nguyên đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1986;
Địa chỉ: thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình.
* Bị đơn: Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1987;
Địa chỉ: thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên toà vắng mặt anh H, chị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên toà nguyên đơn anh Đặng Văn H vắng mặt nhưng anh H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo đơn khởi kiện cũng như lời trình bày của anh H tại các buổi làm việc thể hiện: A và chị Vũ Thị H1 kết hôn với nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 22/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa phương. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc. Đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không thống nhất được các vấn đề trong cuộc sống và vì kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị H1 đã nhiều lần bỏ đi. Sau đó vợ chồng lại về hoà giải, chung sống với nhau. Nhưng từ cuối năm 2023, chị H1 đã bỏ đi làm ăn xa, không có liên lạc về nhà. Từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H xin ly hôn chị H1.
Về con chung: Anh Đặng Văn H xác định giữa anh và chị H1 có hai con chung là Đặng Tài A, sinh ngày 25/12/2012 và Đặng Thu T, sinh ngày 05/02/2018 (Hiện hai con đang ở với chị H1). Sau khi ly hôn, anh H có ý kiến để chị H1 tiếp tục nuôi hai cháu Đặng Tài A và Đặng Thu T và không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H1.
Do hai cháu Đặng Tài A và Đặng Thu T hiện đang ở với chị H1 nên anh H không thể liên lạc được với hai cháu và cũng không thể tiến hành lấy lời khai của hai cháu về nguyện vọng của các cháu.
Về tài sản chung: Anh Đặng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án do chị Vũ Thị H1 không có mặt tại địa phương và không xác định được chị H1 đang ở đâu. Do vậy, Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và cũng đã đăng tin về lịch làm việc giải quyết vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể ghi nhận được ý kiến, quan điểm của chị H1.
Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng (nay là Toà án nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình) đã làm việc với Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình và bà Vũ Thị D là mẹ đẻ chị Vũ Thị H1, thể hiện: Anh H, chị H1 đăng ký kết hôn ngày 22/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình). Anh H và chị H1 có hai con chung là Đặng Tài A, sinh ngày 25/12/2012 và Đặng Thu T, sinh ngày 05/02/2018. Từ cuối năm 2023, chị H1 cùng các con đã đi làm ăn xa, không liên lạc gì với gia đình. Địa phương và gia đình đều không biết địa chỉ hiện nay của chị H1. Bà D xác định anh H, chị H1 đã có mâu thuẫn từ lâu và đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho anh H và chị H1. Phía địa phương không xác định được mâu thuẫn cụ thể, điều kiện nuôi con chung của anh H, chị H1.
Do cháu Đặng Tài A và Đặng Thu T hiện đang ở cùng chị H1, không xác định được địa chỉ nên không thể lấy lời khai của hai cháu. Toà án đã tiến hành đăng thông tin về việc giải quyết vụ án trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa anh Đặng Văn H và chị Vũ Thị H1. Về con chung: Giao chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Tài A, sinh ngày 25/12/2012 và cháu Đặng Thu T, sinh ngày 05/02/2018. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Vũ Thị H1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã N, tỉnh Ninh Bình; anh H yêu cầu giải quyết ly hôn với chị L nên Toà án nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay chị Vũ Thị H1 vắng mặt không có lý do nhưng chị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và vắng mặt là lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H1 là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa anh Đặng Văn H và chị Vũ Thị H1 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 22/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh H, chị H1 có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp và vì kinh tế gia đình. Từ cuối năm 2023, chị H1 đã đi làm ăn xa không liên lạc với gia đình, vợ chồng đã sống ly thân, không liên lạc với nhau. Như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, anh H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với chị H1 là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H.
[3] Về con chung: Anh Đặng Văn H và chị Vũ Thị H1 có hai con chung là Đặng Tài A, sinh ngày 25/12/2012 và Đặng Thu T, sinh ngày 05/02/2018 (Hiện các con đang ở với chị H1). Gia đình không liên lạc được với chị H1 nên tiếp tục giao hai cháu Đặng Tài A, Đặng Thu T cho chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng và anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H1 là phù hợp.
[4] Về tài sản chung: Anh Đặng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đặng Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử ly hôn giữa anh Đặng Văn H và chị Vũ Thị H1.
2. Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Đặng Tài A, sinh ngày 25/12/2012 và cháu Đặng Thu T, sinh ngày 05/02/2018 cho chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H1. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.
3. Về án phí: Anh Đặng Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp theo biên lai số 0001674 ngày 11/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 11 Ninh Bình), anh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Hùng Phương |
5
Bản án số 110/2025/HNGĐ - ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 110/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đặng Văn H xin ly hôn chị Vũ Thị H1
