Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/DS-ST

Ngày: 29-9-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Đương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đinh Đắc Tư
  2. Ông Ngô Hoàng Bá

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967.
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Nay là: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Hưng, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1992 (có mặt).

Địa chỉ: Số 1 đường số C, khu N ở cán bộ - giáo viên trường Đại học Cần Thơ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Nay là: Số 90 đường số 3, khu Nhà ở cán bộ - giáo viên trường Đại học C, phường T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Nay là: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Hưng, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đinh Thị Bạch T1, sinh năm 1968 (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1990 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Nay là: Ấp Thạnh Lợi, xã Trung Hưng, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn T là chủ sử dụng thửa đất số 840, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ). Quá trình sử dụng đất đã bị ông Nguyễn Văn S (chủ sử dụng thửa đất số 839) lấn chiếm phần đất có chiều ngang là 0,03m; chiều dài là 25m; diện tích là 0,75m². Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế theo Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C xác định phần đất tranh chấp là tại các vị trí ® có diện tích là 0,5m², vị trí ® có diện tích là 0,5m². Các phần đất tranh chấp nêu trên ông Nguyễn Văn T đang sử dụng nên ông T có yêu cầu công nhận các phần đất tại các vị trí nêu trên cho ông T.

Đồng thời, bà Nguyễn Thị N là chủ sử dụng thửa đất số 843, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ). Quá trình sử dụng đất đã bị ông Nguyễn Văn S (chủ sử dụng thửa đất số 1383) lấn chiếm phần đất có chiều ngang là 2m; chiều dài là 12,5m; diện tích là 25m². Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế xác định phần đất tranh chấp là tại các vị trí © có diện tích là 3,5m² và vị trí © có diện tích là 0,1m². Các phần đất tranh chấp nêu trên bà Nguyễn Thị N đang sử dụng nên có yêu cầu công nhận các phần đất tại các vị trí nêu trên.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Bị đơn xác định không có lấn chiếm phần đất như phía nguyên đơn trình bày. Ngược lại, phía nguyên đơn sử dụng phần đất tại thửa 840 đã lấn chiếm qua phần đất tại thửa 839 của bị đơn có chiều ngang 0,04m; chiều dài 53,7m²; diện tích 2,48m² nên bị đơn có đơn yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn phải trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích là 2,48m² và tháo dỡ phần nhà đã xây dựng lấn qua trên phần đất của bị đơn. Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế xác định phần đất nguyên đơn lấn chiếm tại vị trí ® có diện tích là 0,5m² và vị trí ® có diện tích là 0,5m² nên bị đơn xác định yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn phải tháo dỡ các công trình xây dựng, phần nhà để trả lại các phần đất tại vị trí ® và vị trí ® cho bị đơn.

Đối với phần đất tại các vị trí © và © thì bị đơn không sử dụng mà nguyên đơn đang sử dụng nên không thể cho rằng bị đơn lấn chiếm. Bị đơn vẫn đồng ý công nhận và ổn định cho nguyên đơn phần đất tại các vị trí © và ©.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Bạch T1, ông Nguyễn Văn K trình bày:

Các ông (bà) thống nhất với ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn S.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của các bên về việc công nhận phần đất tại các vị trí ©, © theo Trích đo bản đồ địa chính cho bà Nguyễn Thị N, bà N tự nguyện chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trên. Đối với phần đất tranh chấp tại vị trí Ⓐ có cơ sở để xác định là của ông T bởi vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn thể hiện cạnh chiều ngang là 8,3m nhưng qua đo đạc thực tế thì bị đơn sử dụng là 8,31m (dư 0,01m; chưa tính phần tranh chấp). Đối với phần đất tại vị trí ® mặc dù bị đơn sử dụng có chiều ngang thiếu 0,11m nhưng xét về tổng thể thì thửa đất của bị đơn sử dụng dư trong khi của ông T sử dụng thiếu diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên ông T yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp là có căn cứ. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án xác định ông T sử dụng lấn qua đất của bị đơn thì ông T đồng ý hoàn trả giá trị đất theo giá thị trường bởi vì ông T đã sử dụng đất lâu dài và xây dựng nhà kiên cố trên đất nên không thể tháo dỡ.

Bị đơn trình bày: Nguyên đơn đã sử dụng lấn chiếm đất của bị đơn tại vị trí ® có diện tích là 0,5m² và vị trí ® có diện tích là 0,5m² nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Theo hồ sơ thể hiện, phần đất tranh chấp tại vị trí ® có cơ sở để xác định ông T không có lấn chiếm của bị đơn vì kích thước chiều ngang tại vị trí này khi đo đạc cấp giấy chứng nhận cho bị đơn là 8,3m trong khi qua đo đạc thực tế thì bị đơn sử dụng là 8,31m (dư 0,01m, chưa tính phần tranh chấp). Đối với phần đất tại vị trí ® là có cơ sở để xác định ông T có sử dụng lấn qua đất của bị đơn là 0,11m vì kích thước chiều ngang thửa đất của bị đơn thiếu so với giấy được cấp. Tuy nhiên, ông T đã sử dụng phần đất ổn định, lâu dài và xây dựng nhà kiên cố nên cần ổn định phần đất cho ông T, buộc ông T trả lại giá trị đất theo giá thị trường là phù hợp. Đối với phần đất tại các vị trí © và © thì các bên đã thống nhất công nhận cho bà N nên đề nghị HĐXX chấp nhận và ghi nhận bà N tự nguyện chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra có cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do phần đất tranh chấp và nơi bị đơn cư trú đều tại xã T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Căn cứ kết quả đo đạc thực tế theo Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thể hiện các bên tranh chấp đối với các phần đất tại các vị trí ® có diện tích 0,5m²; vị trí ® có diện tích là 0,5m²; vị trí © có diện tích là 3,5m² và vị trí © có diện tích là 0,1m². Các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc thực tế theo Trích đo bản đồ địa chính nêu trên nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, theo Biên bản hòa giải ngày 08/9/2025, các bên thống nhất phần đất tranh chấp tại các vị trí © và © thì hiện nay bà N đang sử dụng và bị đơn đồng ý công nhận, ổn định cho bà N tiếp tục sử dụng. Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến thống nhất với nội dung trên. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất tại vị trí © và © của bà N được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với các phần đất tranh chấp còn lại tại các vị trí Ⓐ có diện tích là 0,5m² và vị trí ® có diện tích là 0,5m², Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá trên cơ sở kết quả đo đạc thực tế, đối chiếu với việc đo vẽ khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự và có xem xét thêm quá trình sử dụng đất thực tế của các bên, từ đó xem xét công nhận các phần đất trên thuộc quyền sử dụng của ai.

[2.3] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 840, tờ bản đồ số 02, diện tích 610m², trong đó có 300m² loại đất T và 310m² loại đất LNK, toạ lạc tại xã T - T, huyện T, thành phố Cần Thơ (nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ) vào ngày 13/7/1999. Về nguồn gốc, thửa đất số 840 là do ông T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn T2 theo Hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động đầu tư ngày 23/4/1997. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 840 thì không có đo đạc thực tế nên không xác định được kích thước tứ cạnh của thửa đất.

[2.4] Bị đơn ông Nguyễn Văn S được Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/9/2012 đối với thửa 839, tờ bản đồ số 3, có diện tích là 448m², loại đất ở tại nông thôn, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (Nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ). Về nguồn gốc, thửa đất 839 là do bị đơn nhận thừa kế từ cha mẹ để lại. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 839 thì có đo đạc thực tế và xác định được kích thước tứ cạnh của thửa đất. Đồng thời, các chủ sử dụng đất liền kề có ký tên giáp ranh để xác định ranh giới thửa đất, trong đó có ông Nguyễn Văn T.

[2.5] Tại biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 20/9/2010 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn đối với thửa đất 839 thể hiện kích thước như sau: Cạnh tiếp giáp lộ giao thông nông thôn có chiều ngang là 8,3m (cạnh có vị trí tranh chấp là ®). Tuy nhiên, theo Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 thì thực tế bị đơn sử dụng có kích thước chiều ngang cạnh tại vị trí ® là 8,31m. Như vậy, nếu so với kích thước theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị đơn đang sử dụng dư 0,01m (chưa tính phần tranh chấp). Vì vậy, bị đơn cho rằng ông T sử dụng lấn chiếm phần đất ở vị trí này là không có căn cứ. Xét thấy, ông T đã sử dụng phần đất tại vị trí ® trong thời gian dài và đã xây dựng căn nhà kiên cố nên có cơ sở để công nhận phần đất tại vị trí ® cho ông T, bị đơn phản tố yêu cầu ông T trả lại phần đất trên là không có căn cứ.

[2.6] Đối với phần đất tranh chấp tại vị trí ®: Xét thấy, theo biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 20/9/2010 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn đối với thửa 839 thì có kích thước chiều ngang cạnh tại vị trí ® là 8,4m. Tuy nhiên, theo Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 thì bị đơn sử dụng có kích thước là 8,29m (thiếu 0,11m so với kích thước theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Do đó, có cơ sở để xác định nguyên đơn sử dụng lấn qua đất của bị đơn với kích thước chiều ngang là 0,11m; tương đương 0,25m² tại vị trí này. Tuy nhiên, xét thấy trên phần đất tranh chấp thì ông T đã sử dụng ổn định trong thời gian dài, đồng thời đã xây dựng căn nhà, công trình kiên cố trên đất. Nếu buộc phải tháo dỡ phần lấn chiếm sẽ gây ảnh hưởng đến kết cấu căn nhà, khó đảm bảo thi hành án. Ông T đồng ý trả lại giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp xác định có lấn qua đất của bị đơn. Do đó, thiết nghĩ cần ổn định phần đất tranh chấp tại vị trí này cho ông T và ông T sẽ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho bị đơn theo giá thị trường.

Căn cứ theo biên bản định giá ngày 27/3/2025, giá trị đất là 3.000.000 đồng/m². Các đương sự đồng ý với kết quả định giá nên Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả này làm cơ sở giải quyết vụ án. Theo đó, ông T có nghĩa vụ trả cho bị đơn số tiền là 3.000.000 đồng x 0,25m² = 750.000 đồng.

Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N là có căn cứ để chấp nhận; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T là có cơ sở để chấp nhận một phần. Đồng thời, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận một phần, yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu một nửa chi phí theo quy định.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T được chấp nhận một phần và yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận một phần nên ông T và bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà N tự nguyện chịu án phí đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 và khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 106, Điều 158, Điều 159, Điều 163, Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điều 17, Điều 26, Điều 236 của Luật đất đai năm 2024;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

    Công nhận quyền sử dụng đất tại vị trí © có diện tích là 3,5m² và vị trí © có diện tích là 0,1m² cho bà Nguyễn Thị N.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn S.
    • - Công nhận quyền sử dụng đất tại vị trí ® có diện tích là 0,5m² và vị trí ® có diện tích là 0,5m² cho ông Nguyễn Văn T.
    • - Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 750.000 đồng cho ông Nguyễn Văn S để được công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất tại vị trí ® có diện tích là 0,5m².

    (Đính kèm Trích đo bản đồ địa chính số 10-2025 ngày 26/8/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng số tiền là 7.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn S mỗi bên phải chịu một nửa. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đã tạm ứng xong nên bị đơn ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn T.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

    Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu 0005263 ngày 13/01/2025 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Cần Thơ) đã thu thành án phí.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn S phải chịu số tiền 300.000 đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005321 ngày 17/02/2025 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ đã thu đã thu thành án phí.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo luật định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND KV4 - Cần Thơ;
  • - Phòng THADS KV4-Cần Thơ;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 110/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger