TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2025/HS-ST Ngày: 26 - 11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Anh Tuấn
- Ông Nguyễn Đình Long
- Ông Bùi Quốc Hợp
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Cao Thị Hồng Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường Tổ F, Phường B B, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Lê H, sinh năm: 1977, tại: tỉnh Ninh Bình (Trước đây là tỉnh Hà Nam); nơi thường trú: thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (Trước đây là thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; con ông: Trần Hữu T; con bà: Phạm Thị B; vợ: Hồ Thị Thu H1, sinh năm: 1976 (Đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 09-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thị Thùy D – Văn phòng L; Đoàn Luật sư tỉnh L; địa chỉ: G H, xã D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Đình Cao N; sinh năm 1999; địa chỉ: Số B L, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
2
Người làm chứng:
- Bà Trương Thị B1, sinh năm 1990; địa chỉ: E P, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
- Bà Hồ Thị Thu Đ, sinh năm 1978; hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2 – Bộ C. Có mặt.
- Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1976; địa chỉ: Công ty L1; số C N, phường D, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Trần Quốc V, sinh năm 1976; địa chỉ: H Quốc lộ B, phường C B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 5 năm 2024, Trần Lê H được một người bạn xã hội là ông Trần Quốc V, sinh năm: 1976; địa chỉ: Số H quốc lộ B, xã L, Tp ., tỉnh Lâm Đồng (Nay là phường C B, tỉnh Lâm Đồng) giới thiệu bà Nguyễn Đình Cao N có nhu cầu giúp Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1994; địa chỉ: Số B đường L, phường L, Tp., tỉnh Lâm Đồng (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng) – anh trai bà N, hiện đang bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khởi tố, tạm giam để điều tra, xử lý về hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được tại ngoại. Lúc này, H tìm hiểu và biết ông T1 không có khả năng được tại ngoại khi điều tra nhưng bản thân H cần tiền sử dụng cá nhân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Đình Cao N. Thực hiện ý định, ngày 08-6-2024, H gọi điện thoại cho ông V nói cần trước số tiền 50.000.000 đồng để xin ông T1 được tại ngoại. Ông V thông báo cho bà N biết rồi bà N chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản của H tại Ngân hàng TMCP S chi nhánh B2 - P (STK: 060235359564), đồng thời ghi nhận nội dung giao dịch chuyển khoản “E CK A HUY 50TR LO CHO ANH TUAN”.
Ngày 09-6-2024, H tiếp tục thông báo cho ông V biết về việc cần thêm số tiền 100.000.000đ giải quyết cho T1 được tại ngoại, ông V báo cho bà N rồi bà N tiếp tục chuyển thêm cho H số tiền 100.000.000đ vào tài khoản của H với nội dung “A VIET KEU E CK 100TR NHO ANH GIUP CHO AN TUAN DUM EM, TONG LA 150TR".
Sau khi đã nhận tổng cộng số tiền 150.000.000 đồng, để cho bà N tin tưởng và tiếp tục chuyển tiền, H liên hệ với bà Hồ Thị Thu Đ (sinh năm 1978; hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2 – Bộ C) nhờ bà Đ giới thiệu cho một luật sư để đăng ký bào chữa cho ông T1. Bà Đ đồng ý và thuê luật sư Nguyễn
3
Đình Q (sinh năm 1976; Địa chỉ: Công ty L1, số C N, phường D, Tp. ) đăng ký làm người bào chữa cho ông T1. Ông Q sau đó được Cơ quan CSĐT Công an T cấp Thông báo đăng ký bào chữa xác nhận là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T1 trong vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 70/QĐ-ĐCSMT ngày 17-4-2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.
Đến tối ngày 14-6-2024, ông V gọi điện thoại mở loa ngoài để bà N trao đổi với H về chi phí giải quyết tại ngoại cho ông T1 thì H nói tổng chi phí là 500.000.000 đồng; H đề nghị trả trước số tiền 350.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán hết sau khi ông T1 được tại ngoại. Tin tưởng H, bà N đồng ý chi trả số tiền này. Ngày 15-6-2024, H liên lạc trực tiếp với bà N đề nghị chuyển thêm số tiền 200.000.000 đồng để H giải quyết cho ông T1 được tại ngoại. Tin tưởng H, bà N tiếp tục chuyển khoản thêm cho H số tiền 200 triệu đồng, với nội dung “E CHYEN THEM 200TR VOI HOM TRUOC 150TR TONG LA 350TR DE NHO AN LO CHO ANH TUAN”.
Ngày 03-7-2024, H tiếp tục đề nghị bà N chuyển thêm cho H số tiền 100.000.000 đồng và hứa 01 tuần sau ông T1 sẽ được tại ngoại. Tin tưởng H, bà N tiếp tục chuyển thêm cho H số tiền 100.000.000đ, nội dung “HOM BUA E CK 350TR NAY E CK THEM 100TR TONG 450TR CON 50 TR KHI XONG E CK DU".
Tối ngày 07-7-2024, bà N gặp và hỏi H về việc giải quyết cho ông T1 được tại ngoại thì H trả lời đang thực hiện nhưng do trước đó H chưa gặp trực tiếp phía gia đình bà N nên chưa thống nhất chi phí gia đình bà N phải trả là bao nhiêu, H đề nghị gia đình bà N phải trả chi phí là 600.000.000 đồng để ông H lo cho ông T1 được tại ngoại và được hưởng án treo khi xét xử, H đề nghị bà N trả thêm cho H số tiền 150.000.000 đồng và được bà N đồng ý. Tuy nhiên, do bà N không có đủ tiền nên ngày 09-7-2024, bà N nhờ chị họ là bà Trương Thị Bích G tiền mặt cho H số tiền 100.000.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt tổng số tiền 550.000.000 đồng của bà N, H chuyển khoản tổng số tiền là 95.000.000 đồng nhờ bà Đ thuê luật sư bào chữa cho ông T1, chuyển 10.000.000 đồng chi phí đi lại cho luật sư, còn lại H tiêu xài cá nhân hết.
Do không thấy ông T1 được tại ngoại, bà N gặp H đòi lại số tiền đã chuyển nhưng H không trả nên bà N gửi đơn tố cáo H đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L. Tại Cơ quan điều tra, Trần Lê H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân (BL: 102-121, 230-256)
4
Đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, đề nhãn hiệu Iphone (Kiểm tra nội dung bên trong điện thoại hiển thị: Tên kiểu máy: iPhone 15 Pro Max, Số máy: MU793VN/A).
Bị hại: Bà Nguyễn Đình Cao N, sinh năm 1999, địa chỉ: Số B đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng), bị Trần Lê H chiếm đoạt tổng số tiền là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng). Bà N đã nhận số tiền bồi thường là 70.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 480.000.000 đồng (BL: 44, 59, 65).
Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSLĐ-P2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xét xử đối với bị cáo Trần Lê H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như bản cáo trạng truy tố; không khiếu nại thắc mắc gì thêm về nội dung cáo trạng.
Bị hại Nguyễn Đình Cao N trình bày đã nhận số tiền 70.000.000 đồng do bị cáo nộp khắc phục, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 480.000.000 đồng còn lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Lê H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 480.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Trần Lê H 01 điện thoại màn hình cảm ứng, đề nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 15 Pro Max)
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, về tình tiết giảm nhẹ, ngoài các tình tiết giảm nhẹ Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng bổ sung cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác và gia đình có công với cách mạng, từ đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị áp dụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cho bị cáo sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.
5
Bị cáo thống nhất lời trình bày của Luật sư và không có ý kiến tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu, có thành tích xuất sắc trong công tác; gia đình hiện có hoàn cảnh khó khăn nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận, khi nghe ông Trần Quốc V cho biết bị hại chị Nguyễn Đình Cao N có anh trai là Nguyễn Hoàng T1 bị bắt tạm giam về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có mong muốn xin cho T1 được tại ngoại; để có tiền tiêu xài cá nhân; từ ngày 08/6/2025 đến ngày 09/7/2025, Trần Lê H nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân có khả năng giúp cho ông Nguyễn Hoàng T1 được tại ngoại để chiếm đoạt của bà Nguyễn Đình Cao N nhiều lần, với tổng số tiền là 550.000.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do tài sản chiếm đoạt có trị giá trên 500.000.000 đồng nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; không những xâm hại đến khách thể quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do vậy, cần quyết
6
định mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đánh giá nhân thân, bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với việc bị cáo có bố đẻ là ông Trần Hữu T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bị cáo được Chủ tịch UBND huyện Đ tặng giấy khen hoàn thành tốt nghiệm vụ công tác năm 2011, được Ban chấp hành Liên đoàn Lao động huyện Đ tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong hoạt động công đoàn năm 2009 thì chỉ có thể xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà không có căn cứ cũng như điều kiện để áp dụng điểm v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị.
Do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời số tiền chiếm đoạt có trị giá ở khởi điểm khung hình phạt nên khi lượng hình chỉ cần quyết định hình phạt ở mức khởi điểm khung hình phạt đối với bị cáo cũng tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bị chiếm đoạt số tiền 550.000.000 đồng và xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, nay yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 480.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo Trần Lê H tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Đình Cao N số tiền 480.000.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 điện thoại màn hình cảm ứng, đề nhãn hiệu Iphone, qua kiểm tra không lưu giữ dữ liệu liên quan đến vụ án, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
[7] Trong vụ án này, có ông Trần Quốc V là người đã giới thiệu bị cáo H với bà Nguyễn Đình Cao N để H giúp cho ông Nguyễn Hoàng T1 được tại ngoại. Quá trình điều tra xác định, ông V không biết việc H lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà N, không có sự trao đổi, thỏa thuận với H và cũng không được hưởng lợi gì từ việc này nên không có cơ sở xử lý đối với ông Trần Quốc V.
7
[8] Về án phí: Do bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu án tương ứng với số tiền còn phải bồi thường.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Lê H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Lê H 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09-6-2025.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Trần Lê H bồi thường cho bị hại Nguyễn Đình Cao N số tiền 480.000.000đ (bốn trăm tám mươi triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Trần Lê H 01 điện thoại màn hình cảm ứng, đề nhãn hiệu Iphone (tên kiểu máy: Iphone 15 Pro Max) nhưng tiếp tục tam giữ để đảm bảo thi hành án (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng)
4. Về án phí:
Áp dụng các Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
8
Buộc bị cáo Trần Lê H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 23.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 109/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Lê H. Lừa đảo
