Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11-NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29/9/2025

V/v: Ly hôn giữa anh T và chị T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm B H, xã H, tỉnh Ninh Bình;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B H, xã H, tỉnh Ninh Bình. Nơi ở hiện nay: Xóm N (H), xã H, tỉnh Ninh Bình.

(Anh T đề nghị xét xử vắng mặt; chị T1 vắng mặt lần thứ hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 24/7/2025, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:

Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đăng ký kết hôn ngày 29/01/1999 tại Ủy ban nhân dân xã H cũ nay là UBND xã H, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Quá trình chung sống, mặc dù đã có con chung nhưng do kinh tế khó khăn, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi chửi nhau. Anh T, chị T1 đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ năm 2001 cho đến nay. Trong suốt thời gian ly thân, anh T, chị T1 không gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn do cả hai đều không có ý định hàn gắn. Do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài nên anh T yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn với chị T1.

Về con chung: Anh T và chị T1 có một con chung là Trần Tài A, sinh năm 1999. Hiện cháu Tài A đã trưởng thành, xây dựng gia đình ở riêng nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Anh T và chị T1 không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 41/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho chị Nguyễn Thị T1 nhưng chị T1 không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T. Đồng thời, Tòa án nhân dân khu vực 11- Ninh Bình cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị T1 nhưng đến nay chị T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11- Ninh Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1. Về con chung, về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần hai không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị T1 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã H cũ nay là xã H, tỉnh Ninh Bình đăng ký kết hôn ngày 29-01-1999.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị T1 thì thấy: Quá trình chung sống, do kinh tế khó khăn, vợ chồng không chia sẻ trách nhiệm với nhau, tính tình, quan điểm sống lại không hợp nên anh T và chị T1 thường xuyên mâu thuẫn. Anh T, chị T1 đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ năm 2001 cho đến nay. Mặt khác, chị T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, biết được việc anh T làm đơn xin ly hôn nhưng không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc đã chứng tỏ chị T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh T. Trên cơ sở xem xét biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân và cư trú của chị Nguyễn Thị T1 tại xóm N và Công an xã H, tỉnh Ninh Bình; căn cứ lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T, chị T1 đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không tồn tại trong suốt thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T ly hôn chị T1 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung, về tài sản: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có một con chung là Trần Tài A, sinh năm 1999. Hiện cháu Tài A đã trưởng thành, xây dựng gia đình ở riêng. Anh T, chị T1 không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản. Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, về tài sản. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, chị T1 cũng không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Anh Trần Văn T phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Trần Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0000389 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Anh Trần Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh+khu vực;
  • - THADS tỉnh;
  • - UBND xã Hải Thịnh;
  • - Các đương sự;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hòe

3

- Lưu hồ sơ + VP.

Ngô Thị Hòe

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-NINH BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa anh T và chị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger