Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 107/2025/HS-PT

Ngày 17 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh

Ông Ung Quang Định

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Hòa Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2025/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị và không có liên quan đến kháng cáo:

Nguyễn Thế V, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm: 1954 và bà Đỗ Thị Đ, sinh năm: 1958; vợ: Trần Thị N, sinh năm: 1989 (đã ly hôn); con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2007 và nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

  • - Tại Bản án số 59/2024/HSST ngày 23/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa) đã xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 năm tù.
  • - Tại Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 06/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng) đã xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 10 năm tù tại Bản án số 59/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - tỉnh Khánh Hòa), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.

Hiện nay, bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam H1 – Bộ C. (do bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị và không có liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập bị cáo đến tham dự phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án nêu trên)

- Những người tham gia tố tụng có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Vũ S1, sinh năm 1984, số căn cước công dân: [...] (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bà Đinh Thị Cẩm H, sinh năm 1990, số căn cước công dân: [...] (có mặt)

Ông S1 và bà H đồng cư trú tại: Số B đường V, xã B, tỉnh Gia Lai.

  1. Ông Đỗ Trung T, sinh năm 1984, số căn cước công dân: [...]; cư trú tại: Số B đường V, xã B, tỉnh Gia Lai (có mặt)
  2. Ông Trương Lưu T1, sinh năm: 1989; số căn cước công dân: [...]; cư trú tại: Thôn C, xã B, tỉnh Gia Lai (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để phục vụ công việc kinh doanh tôm giống tại huyện T, tỉnh Ninh Thuận (nay là thôn L, xã C, tỉnh Khánh Hòa) nên ngày 20/5/2020, Nguyễn Thế V đến nhà ông Võ Thanh B ký hợp đồng thuê xe ôtô để tự lái, nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát 77A – 089.55 (xe do ông Võ Thanh B đứng tên chủ xe), thời hạn thuê 04 tháng, với giá là 15.000.000 đồng/tháng và sau đó giữa hai bên còn thực hiện 02 lần việc thuê xe nêu trên. Ông B đã giao cho V xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 và bản sao chứng nhận đăng ký xe. Trong thời gian thuê xe, V đã thanh toán tiền thuê xe cho ông B theo đúng thỏa thuận.

Khoảng tháng 9/2020, khi đi công việc tại thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, V nhờ 01 người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 77A - 089.55, tên chủ xe là Nguyễn Thế V với giá 2.500.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Đến đầu năm 2021, do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, việc làm ăn kinh doanh gặp khó khăn, V nảy sinh ý định sử dụng chứng nhận đăng ký xe giả nêu trên, cầm cố xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Ngày 16/01/2021, V đem xe ô tô trên cùng chứng nhận đăng ký xe ô tô giả đến cơ sở “Dịch vụ cầm đồ 271-273 Võ Văn D” do ông Nguyễn Vũ S1 làm chủ. V nói xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 là của mình và đồng thời cung cấp chứng nhận đăng ký xe ô tô, chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Thế V. Ông S1 đồng ý nhận cầm cố chiếc xe ô tô trên với số tiền 200.000.000 đồng, thời gian cầm cố 01 tháng (từ ngày 16/01/2021 đến ngày 16/02/2021), tiền lãi 3.000.000 đồng, hai bên lập giấy biên nhận cầm đồ. Hết thời hạn cầm cố, ông S1 nhiều lần liên lạc yêu cầu V trả tiền, lấy lại xe nhưng V không đến và sau đó ông S1 không liên lạc được với V.

Khoảng tháng 11/2022, ông S1 bán chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 cho ông Đỗ Trung T với giá 480.000.000 đồng. Hai bên đã lập hợp đồng mua bán xe nhưng không có công chứng. Sau khi mua xe, ông Trực G xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Thế V nêu trên cho ông Trương Lưu T1 quản lý, sử dụng cho đến nay.

Mặc dù đã cầm cố xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 nhưng khi hết thời hạn thuê xe, để ông B không đòi lại xe thì V vẫn liên lạc qua điện thoại, thỏa thuận với ông B tiếp tục gia hạn thuê xe ô tô trên và được ông B đồng ý. Thời điểm này do dịch Covid-19 nên V và ông B không gặp trực tiếp để ký hợp đồng thuê xe như những lần trước. Hàng tháng, V duy trì chuyển trả tiền thuê xe cho ông B thông qua tài khoản ngân hàng đến tháng 10/2022. Sau đó, V không chuyển trả tiền thuê xe nữa. Ông B nhiều lần gọi điện cho V yêu cầu trả xe, thanh toán tiền thuê xe nhưng V dùng nhiều lý do không trả và ông B cũng không gặp được V.

Ngày 12/5/2024, sau khi biết được thông tin V bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (nay là cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K) khởi tố, bắt tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì ông B đã làm đơn gửi cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G) tố cáo hành vi của V. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Tại Kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 26/7/2024, Phòng K Công an tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: Chứng nhận đăng ký xe số 029955, tên chủ xe: Nguyễn Thế V, sinh năm 1977, biển số đăng ký 77A-089.55 là giả.

Tại Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, biển số đăng ký 77A – 089.55, năm sản xuất 2017, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 16/01/2021 có giá trị là 800.000.000 đồng.

Ngày 03/10/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 cho ông Võ Thanh B.

Về dân sự:

  • - Ông B yêu cầu V bồi thường số tiền thuê xe trong thời gian 22 tháng (từ tháng 11/2022 đến tháng 9/2024) là 330.000.000 đồng và tại phiên tòa sơ thẩm, ông B đã rút yêu cầu nêu trên.
  • - Ông S1 yêu cầu V hoàn trả lại số tiền 200.000.000 đồng đã đưa cho bị cáo để nhận cầm cố xe và khoản tiền lãi (tính theo lãi suất ngân hàng) trong thời gian từ ngày 16/01/2021 đến khi giải quyết xong vụ án.
  • - Ông T yêu cầu vợ chồng ông S1 – bà Đinh Thị Cẩm H trả lại số tiền 480.000.000 đồng.

Tại phần quyết định về dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 25/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai đã buộc bị cáo V có nghĩa vụ hoàn trả cho ông S1 số tiền 200.000.000 đồng và buộc vợ chồng ông S1 - bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T số tiền 480.000.000 đồng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt đối với bị cáo V, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01/10/2025 và ngày 17/10/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Vũ S1 có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại phần quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông với ông T, ông yêu cầu mức bồi thường mà vợ chồng ông có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T là 380.000.000 đồng.

Theo đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 17/12/2025, ông S1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên; tại phiên toà phúc thẩm, bà H (vợ ông S1) thống nhất với yêu cầu kháng cáo của ông S1 và các ông T, T1 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông S1, đề nghị giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về dân sự giữa vợ chông ông S1 với ông T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Vũ S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông S1 - bà H với ông T và buộc ông S1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 17/12/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của người kháng cáo ông Nguyễn Vũ S1 (do bà Đinh Thị Cẩm H – vợ ông S1 nộp trực tiếp tại Tòa án); những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không có ai có ý kiến về sự vắng mặt của ông S1 và đề nghị vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông S1 theo quy định.

Xét thấy, ông S1 đã có bản khai cụ thể, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án và bà H (vợ ông S1) có mặt tại phiên tòa, sẽ trình bày các nội dung liên quan đến yêu cầu kháng cáo của ông S1 nên việc vắng mặt của ông S1 không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông S1 theo quy định.

[2] Tháng 5/2020, Nguyễn Thế V ký hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 (có giá trị 800.000.000 đồng) của ông Võ Thanh B để phục vụ việc đi lại kinh doanh tôm giống. Đến tháng 9/2020, V đặt làm giả 01 chứng nhận đăng ký xe ô trên đứng tên của mình, mục đích để sử dụng. Đầu năm 2021, do công việc kinh doanh gặp khó khăn, để có tiền trả nợ và tiêu xài, V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 của ông B bằng cách sử dụng chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cầm cố chiếc xe trên tại tiệm cầm đồ của ông Nguyễn Vũ S1 với số tiền 200.000.000 đồng, thời gian cầm cố 01 tháng (từ ngày 16/01/2021 đến ngày 16/02/2021), tiền lãi 3.000.000 đồng, hai bên lập giấy biên nhận cầm đồ. Hết thời hạn cầm cố, sau nhiều lần liên lạc nhưng V không đến trả tiền và lấy lại xe nên khoảng tháng 11/2022, ông S1 đã bán chiếc xe ô tô trên cho ông Đỗ Trung T với giá 480.000.000 đồng.

Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Nguyễn Thế V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Ngày 01/10/2025 và ngày 17/10/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Vũ S1 có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm về phần quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông S1 - bà H với ông T. Xét kháng cáo của ông S1, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại thời điểm vợ chồng ông S1 - bà H và ông T ký hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55 thì xe ô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông B, bị cáo V đã có hành vi làm giả và sử dụng chứng nhận đăng ký xe ô tô trên đứng tên bị cáo cầm cố tại tiệm cầm đồ của ông S1. Ông S1 không biết nguồn gốc xe ô tô là bị cáo V thuê của người khác rồi đem cầm cố chiếm đoạt nên đã chuyển nhượng lại cho ông T, hai bên đã lập hợp đồng mua bán xe nhưng không có công chứng.

Căn cứ quy định tại các Điều 117, 123, 129 của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng mua bán xe giữa vợ chồng ông S1 - bà H và ông Trực thuộc trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và không tuân thủ quy định về hình thức (hợp đồng mua bán xe ô tô phải được công chứng).

Theo khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” thì Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông S1 - bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T số tiền 480.000.000 đồng là đúng quy định và căn cứ khoản 3 Điều 131 của Bộ luật Dân sự “Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” thì ông T (là người mua xe ngay tình) không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ xe ô tô biển kiểm soát 77A – 089.55.

Từ những phân tích trên, ông S1 kháng cáo yêu cầu xem xét lại quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông với ông T, ông cho rằng Tòa sơ thẩm chưa đánh giá mức khấu hao ông T đã sử dụng xe và cho ông T1 thuê xe trong thời hạn 03 năm, ông yêu cầu mức bồi thường mà vợ chồng ông có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T là 380.000.000 đồng là không có căn cứ và không phù hợp với nhận định trên. Đồng thời tại phiên tòa phúc thâm, bà H và ông T cũng không thương lượng được việc giải quyết phần dân sự có kháng cáo nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông S1 - bà H với ông T.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm phần quyết định về dân sự nên ông S1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003850 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các Điều 117, 123, 129, 131, 579, 580, 584, 589 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Vũ S1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai về phần quyết định về dân sự giữa vợ chồng ông Nguyễn Vũ S1, bà Đinh Thị Cẩm H với ông Đỗ Trung T.
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Vũ S1, bà Đinh Thị Cẩm H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đỗ Trung T số tiền 480.000.000 đồng (bốn trăm tám mươi triệu đồng).
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Vũ S1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003850 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
  4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND khu vực 1 – Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 1, tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng THADS khu vực 1, tỉnh Gia Lai;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 107/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger