TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1061/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 10 - 2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thu Hương
bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai, vụ án dân sự thụ lý số: 657/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3211/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2025.
Nguyên đơn: ông Trần Đức M, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp E, xã P (xã T, huyện L cũ), tỉnh Đồng Nai, (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: bà Trần Thị H, sinh năm 1996; thường trú: Ấp B, xã L (xã B, huyện L cũ), tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: 1 Đường số D, phường A (A P, Phường A, quận G cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 5 năm 2025, bản tự khai, qua các lần làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là ông Trần Đức M trình bày: ông Trần Đức M kết hôn với bà Trần Thị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận kết hôn số: 76/2022, ngày 24 tháng 4 năm 2022. Do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống chung. Nhận thấy không thể khắc phục được mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên ông M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống. Ông M và bà H có 01 con chung tên là Trần Hoa V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2022, nếu ly hôn thì bà H trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông M không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tòa án đã giao Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập bà H để ghi ý kiến về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Bà H có tới tham gia tố tụng, trong bản tự khai ngày 16/6/2025 thì bà H không đồng ý ly hôn với ông M vì bà H còn yêu thương chồng, nhưng trong bản tự khai ngày 24/9/2025 thì bà H có khai nhiều tháng nay ông M không liên lạc với bà H và ông M cũng không về thăm con, nên bà H yêu cầu nếu giải quyết ly hôn thì bà H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung, nợ chung trong vụ án này. Do ông M vẫn xin được giải quyết ly hôn, nên Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà H, tại phiên tòa này bà H có mặt và đồng ý ly hôn với ông M, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và ông M1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 đ (mười triệu đồng), cấp dưỡng từ ngày ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung thì bà H không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin được giải quyết ly hôn theo nội dung đã trình bày là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 76/2022, ngày 24 tháng 4 năm 2022 do Ủy ban nhân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Trần Đức M và bà Trần Thị H đã xác định quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà H là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.
Yêu cầu xin ly hôn của ông M đối với bà H là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về nội dung:
Đối với yêu cầu ly hôn của ông M thì Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông M yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với bà H, nguyên nhân chủ yếu là do ông M không còn tình cảm với bà H. Việc ông M không tham gia phiên hòa giải, phiên tòa cũng đã thể hiện ông M không mong muốn đoàn tụ với bà H. Tại phiên tòa thì bà H đồng ý ly hôn với ông M do bà H nhận thấy khó có thể đoàn tụ cùng ông M vì từ khi đi làm công việc mới ông M không hề về nhà để thăm vợ và con. Hội đồng xét xử thấy rằng nên chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.
Ông M và bà H có 01 con chung tên là Trần Hoa V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2022, ông M xin giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn và ông M không cấp dưỡng nuôi con. Bà H xin được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đ (mười triệu đồng), cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, Hội đồng xét xử nhận thấy cháu V còn dưới 36 tháng tuổi, hiện vẫn đang sinh sống cùng bà H, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Hoa V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành, ông M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo như yêu cầu trên của bà H.
Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét về tài sản chung, nợ chung của đương sự trong vụ án này.
Từ những nhận định như trên Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết cho ông M được ly hôn với bà H, cụ thể như sau:
Về quan hệ hôn nhân: ông M được ly hôn với bà H, quan hệ hôn nhân chấm dứt từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: ông M và bà H có 01 con chung tên là Trần Hoa V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2022, bà H trực tiếp nuôi dưỡng Trần Hoa V sau khi ly hôn, ông M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 đ (mười triệu đồng), cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ông M được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở quyền này của ông M. Nếu ông M lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của ông M.
Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Ông M phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo quy định của pháp luật.
Ông M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Ông Trần Đức M được ly hôn với bà Trần Thị H.
Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 76/2022, ngày 24 tháng 4 năm 2022 do Ủy ban nhân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Trần Đức M và bà Trần Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: ông M và bà H có 01 con chung tên là Trần Hoa V, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2022, bà H trực tiếp nuôi dưỡng Trần Hoa V sau khi ly hôn, ông M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 đ (mười triệu đồng), cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ông M được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở quyền này của ông M. Nếu ông M lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của ông M.
Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) ông Trần Đức M phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) ông M đã tạm nộp án phí theo biên lai số: 0000040 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông M đã nộp đủ án phí.
Ông Trần Đức M phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Hoàng Thế Viễn |
Bản án số 1061/2025/HNGĐ-ST ngày 21/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1061/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Mần khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H.
