Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày 11 - 11 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tùng Mận, ông Trần Văn Nghị
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình - Thư ký Toà án nhân dân Khu Vực 1 - Đắk L
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu Vực 1 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Cao Hữu N. Tên gọi khác: P. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại thành phố H;
  2. Nơi thường trú và chỗ ở: Số A đường N, thôn B, phường T, tỉnh Đắk Lắk;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm nông;

    Họ và tên cha: Cao Hữu P1; H và tên mẹ: Trần Thị M (đều đã chết)

    Bị cáo có vợ là Trần Thị Thanh T, sinh năm 1981; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014;

    Tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 06/9/2024 bị Công an thành phố B ra Quyết định số 004829/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Khai thác khoáng sản mà không có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp” bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành đóng phạt.

    Nhân thân: Ngày 28/10/2019 bị Phòng C3 Công an tỉnh Đ ra Quyết định số 132/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Khai thác khoáng sản mà không có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp" bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành đóng phạt.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 16/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.

  3. Họ tên: Võ Thị Kiều T1. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1982, tại tỉnh Đắk Lắk;
  4. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn B, phường T, tỉnh Đắk Lắk;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán;

    Họ và tên cha: Võ Thế C, sinh năm 1956; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Trần Văn H2, sinh năm 1984; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2024;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 16/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.

  5. Họ tên: Trần Quang T2. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1980, tại tỉnh Đắk Lắk;
  6. Nơi thường trú và chỗ ở: Đ Buôn J, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Thợ xây;

    Họ và tên cha: Trần N1, sinh năm 1952; Họ và tên mẹ: Phạm Thị T3, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là chị Lê Diệp Hoàng O, sinh năm 1987. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 16/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.

  7. Họ tên: Võ Văn T4. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 19 tháng 12 năm 1984, tại tỉnh Quảng Trị;
  8. Nơi thường trú và chỗ ở: Số C đường D, Buôn J, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Thợ xây;

    Họ và tên cha: Võ Văn H3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Mai Thị D, sinh năm 1956; Bị cáo có vợ là Trần Thị Kim N2, sinh năm 1985; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2022;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 16/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến:

Ông Trần Văn H4, sinh năm 1984. Trú tại: số E X, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 06/8/2025, Võ Thị Kiều T1 đang ở nhà của mình tại số I đường G, thôn B, phường T, tỉnh Đắk Lắk, thì lần lượt có Võ Văn T4, Cao Hữu N và Trần Quang T2 đến chơi. Tại đây, tất cả rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi bài Phòm thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Thấy vậy, T1 lấy 01 cái chăn có sẵn trong nhà mình trải xuống nền nhà khu vực phía trước cửa phòng tắm và lấy 02 bộ bài tây (bài Tú Lơ Khơ loại 52 quân bài – lá bài) có sẵn trong nhà T1 để đánh bạc. Trong đó, T1 dùng 2.000.000 đồng, N dùng 3.000.000 đồng, T4 dùng 2.000.000 đồng và T2 dùng 2.000.000 đồng, để đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì có anh Trần Văn H4, sinh năm 1984, trú tại số E X, phường B, tỉnh Đắk Lắk (là bạn của T1) đến chơi và thấy các bị cáo đánh bạc nên ngồi xem. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, trong lúc các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an Phường T, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.000.000 đồng và các vật chứng liên quan.

Các bị cáo Đánh bạc bằng cách chơi bài Phỏm có hình thức như sau: Người chơi sử dụng bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá, mỗi quân bài gồm số và chất. Số các quân bài quy ước từ nhỏ đến lớn lần lượt là A (còn gọi là Á hoặc Xì) được tính 1 điểm; Các quân bài có số tự nhiên từ 2 đến 10, được tính tương ứng với điểm số của quân bài đó; quân bài J (còn gọi là B) được tính 11 điểm; quân bài Q (còn gọi là Đ) được tính 12 điểm và quân bài K (còn gọi là Già) được tính 13 điểm. Chất các quân bài quy ước từ nhỏ đến lớn lần lượt là B1, C1, R và C2. Nhóm bài được gọi là “phỏm” gồm: Từ 3 quân bài trở lên được sắp xếp tăng dần đều về phần số và cùng chất với nhau; 3 hoặc 4 quân bài cùng số với nhau. Bắt đầu mỗi ván đánh, mỗi người được chia đều ngẫu nhiên 9 quân bài, riêng người đánh đầu tiên được chia 10 quân bài, số bài còn lại được đặt ở dưới chiếu bạc, gọi là "nọc bài”. Theo thứ tự chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại lần lượt người chơi sẽ đánh xuống chiếu bài 1 quân bài bất kỳ. Người đánh kế tiếp có quyền ăn quân bài này để kết hợp với nhóm bài của mình tạo thành “phỏm” (một “phỏm” chỉ có thể có tối đa một quân bài được ăn vào) hoặc người này có thể không ăn thì phải bốc 1 quân bài theo thứ tự từ “nọc bài” còn lại rồi đánh 01 quân bài bất kỳ khác trên tay của mình cho người chơi kế tiếp. Bằng hình thức đánh như vậy, người chơi đánh 4 vòng thì kết thúc ván đánh, so sánh điểm số của những quân bài không phải là “phỏm” để tính điểm thắng thua. Nếu người chơi nào có “phỏm” mà điểm số nhỏ nhất thì tới nhất, lần lượt là tới nhì, ba và tư. Kết thúc ván đánh, người chơi nào không có “phỏm" gọi là cháy, mặc nhiên người này tới cuối mà không phải so sánh điểm số với những người chơi khác. Trong một ván đánh, người chơi có 09 quân bài kết hợp lại thành “phỏm” gọi là “Ù” hoặc người chơi có 10 quân bài tạo thành “phỏm" gọi là “Ù tròn” thì những người chơi còn lại không cần phải tỉnh điểm thắng thua mà chung tiền cho người thắng. Q “bài cá" là quân được bốc bất kỳ từ bộ bài còn lại và do người về nhất ván trước đó bốc để tính thắng thua.

Khi chơi, các bị cáo thỏa thuận tỉ lệ cá cược như sau: Người về nhất thắng người về nhì 50.000 đồng, thắng người về ba 100.000 đồng và thắng người về chót (về bét) 150.000 đồng. Người có bài bị cháy thua số tiền 200.000 đồng. Người ăn cây bài thứ nhất thắng 50.000 đồng của người có lá bài đánh ra bị ăn, tiếp tục ăn cây bài thứ 2 thắng 100.000 đồng và ăn cây bài thứ 3 thì người có lá bài bị ăn phải đền bài. Người chơi có bài “Ủ thường” thì sẽ thắng mỗi người chơi số tiền 250.000 đồng; Người có bài “Ủ tròn” sẽ thắng mỗi người chơi số tiền 500.000 đồng. Quá trình đánh bài, các bị cáo thỏa thuận bốc quân cá ở bộ bài thứ hai, mỗi quân cá tính 50.000 đồng. Người chơi có “tứ quý thường" thẳng những người chơi còn lại 250.000 đồng; Người chơi có "tứ quý cá" thắng những người chơi còn 500.000 đồng. Mỗi lần có “tứ quý” hoặc “ủ" người thắng phải bỏ ra số tiền 50.000 đồng để mua đồ ăn, nước uống chung.

Việc tạm giữ đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: Số tiền 9.000.000 đồng trên chiếu bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model TA-1538 màu xanh, số Imei: 353747945974292 của bị cáo Cao Hữu N; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số Imei: 354650134010598 của bị cáo Võ Văn T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K30 Pro màu trắng, số Imei: 99001623781821 của bị cáo Trần Quang T2; 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, kích thức 0,8m x 1m; 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá (các tài sản bị thu giữ đều đã qua sử dụng).

Tại phiên tòa các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-HS ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 1 - Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Cao Hữu N từ 06 đến 09 tháng tù.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Võ Thị Kiều T1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Xử phạt bị cáo Trần Quang T2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Võ Văn T4 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình Sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 9.000.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ của các bị cáo Cao Hữu N; Võ Văn T4 và Trần Quang T2. Xác định, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo N, T4 và T2 là chủ sở hữu.

Đối với 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, kích thức 0,8m x 1m và 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá, liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 1 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ, ngày 06/8/2025, tại số nhà I đường G, thôn B, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Võ Thị Kiều T1 cùng với Cao Hữu N, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức chơi đánh "phỏm" thì bị Công an phường T, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 1 - Đắk Lắk truy tố các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại Điều 321 Bộ Luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ Luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ Luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an xã hội tại Phường T nói riêng và toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và biết rằng hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nhà nước nghiêm cấm. Song với ý thức coi thường pháp luật, vì lười lao động, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Võ Văn T4 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có sổ hộ cận nghèo và có giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp.

Hội đồng xét xử nhận thấy trong vụ án có nhiều bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khác nhau, tính chất phạm tội khác nhau nên cần phân hóa để quyết định hình phạt cho phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện.

Đối với bị cáo Cao hữu N, bị cáo có 01 tiền sự chưa được xoá tiền sự nhưng tiếp tục phạm tội, trong vụ án bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để rèn luyện thành người công dân tốt cho xã hội.

Đối với các bị cáo Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4, Trần Quang T2 tham gia phạm tội với tính chất, mức độ phạm tội ngang nhau nên cần xử phạt các bị cáo mức hình bằng nhau và thấp hơn bị cáo N là phù hợp. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình phối hợp giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình Sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 9.000.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ của các bị cáo Cao Hữu N; Võ Văn T4 và Trần Quang T2. Xác định, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo N, T4 và T2 là chủ sở hữu.

Đối với 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, kích thức 0,8m x 1m và 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá, liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Hữu N 07 (bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/08/2025 đến ngày 16/08/2025.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Thị Kiều T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Trần Quang T2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn T4 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4, Trần Quang T2 cho UBND phường T, tỉnh Đắk Lắk, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình Sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.000.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng phạm tội (đã nộp vào tài khoản Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk bằng giấy nộp tiền ngày 24/10/2025 tại Ngân hàng TMCP N3 chi nhánh Đ1).

Tuyên trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model TA-1538 màu xanh, số Imei: 353747945974292 cho bị cáo Cao Hữu N; trả 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số I: 354650134010598 cho bị cáo Võ Văn T4; trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K30 Pro màu trắng, số I: 99001623781821 cho bị cáo Trần Quang T2 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

T5 tịch thu tiêu huỷ 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, kích thức 0,8m x 1m; 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá (Tất cả các đồ vật. tài liệu, vật chứng đều đã qua sử dụng).

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu Vực 1 – Đắk Lắk).

*Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Cao Hữu N, Võ Thị Kiều T1, Võ Văn T4 và Trần Quang T2. Mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • – TAND tỉnh; TANDTC;
  • – VKSND Khu vực 1; tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - UBND phường Tân An
  • - Cơ quan THAHS tỉnh;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk
  • - Các bị cáo,
  • - Lưu hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Đôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Hữu N + đồng bọn bị xét xử về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 32 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger