Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9- CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/DS-ST

Ngày 30/9/2025.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Bé Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lại Thiện Phong
  2. Ông Nguyễn Thành Đến.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Yến Phi- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau (Cơ sở 2), xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 72/2025/TLST-DS, ngày 22 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2025/QÐST- DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 138/2025/QĐST-DS ngày 08/9/2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần () Việt Nam T.

    Địa chỉ: số H, L, Phường Đ, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B, chức vụ: Trưởng phòng.

    Người được ủy quyền lại: Ông Vương Lê Vĩnh N, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ.

    Địa chỉ: Tầng A, số E, đường T, Phường C, Quận N, Thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn: Anh Trương Công T, sinh năm 1991.

    Địa chỉ: ấp N, xã H, tỉnh Cà Mau.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp V, xã V, tỉnh Cà Mau.

(Ông N- đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Anh Trương Công T và chị Nguyễn Thị Như Ý vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vương Lê Vĩnh N có lời khai trình bày:

Ngày 12/5/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần V có cho anh Trương Công T vay số tiền nợ gốc là 415.000.000 đồng, mục đích vay tiền: mua xe ô tô, lãi suất là 9,5%/ 1 năm, thời hạn vay là 49 tháng và các điều khoản khác thể hiện trong Hợp đồng cho vay số: LD2205095720695 ngày 12/5/2022 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 12/5/2022.

Ngày 14/3/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần V có cho anh Trương Công T vay số tiền nợ gốc là 34.000.000 đồng, mục đích vay tiền: mua xe ô tô, lãi suất là 20,5%/ 1 năm, thời hạn vay là 36 tháng và các điều khoản khác thể hiện trong Hợp đồng cho vay số: LD2305600282 ngày 14/3/2023.

Để đảm bảo các khoản vay tiền nêu trên ông Trương Công T và bà Nguyễn Thị Như Ý có ký Hợp đồng thế chấp số LN 2205095720695 ngày 12/5/2022; ngày 13/5/2022 Ngân hàng với ông T bà Ý thực hiện ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó ông T, bà Ý thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần V chiếc xe ô tô nhản hiệu TOYOTA, Vios E, 1,5L, MT, số khung RL4B28F31N5121697, số máy 2NRX829823, biển số 94A-073.80 để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Quá trình sử dụng vốn vay, trả nợ vay, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng yêu cầu ông T và bà Ý trả cho Ngân hàng với số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 516.327.302 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Trường hợp anh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu tiến hành phát mãi tài sản mà anh T và chị Như Ý đã thế chấp để thu hồi nợ.

Bị đơn anh Trương Công T đã được Toà án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Như Ý đã được Toà án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

-Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn là đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự; Riêng bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Buộc anh Trương Công T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 30/9/2025 tổng số tiền 516.327.302 đồng (trong đó, tiền vay gốc 364.620.141 đồng, tiền lãi là 147.384.585 đồng và tiền lãi chậm trả 4.322.576 đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Như Ý cùng anh Trương Công T trả nợ vay và lãi phát sinh.
  3. Trường hợp anh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu nhản hiệu TOYOTA, Vios E, 1,5L, MT, số khung RL4B28F31N5121697, số máy 2NRX829823, biển số 94A-073.80 để thu hồi nợ.
  4. Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông Trương Công T và bà Nguyễn Thị Như Ý trả tiền vay theo hợp đồng đã ký kết. Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, tỉnh Cà Mau nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Đại diện nguyên đơn ông Vương Lê Vĩnh N có đơn xin vắng mặt, Bị đơn anh Trương Công T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Như Ý vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tại phiên toà nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng được ký kết vào ngày 12/5/2022, thời hạn vay 84 tháng, trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Đến ngày 30/6//2025 Ngân hàng nộp đơn khởi kiện nên căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự là còn thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V đối với anh Trương Công T và chị Nguyễn Thị Như Ý về yêu cầu trả tiền vay gốc, lãi:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Trương Công T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Như Ý các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, anh T và chị Như Ý không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Do đó căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3.1] Xét Hợp đồng tín dụng số: LD2205095720695 ngày 12/5/2022 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 12/5/2022: Ngày 12/5/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần V có cho anh Trương Công T vay số tiền nợ gốc là 415.000.000 đồng, mục đích vay tiền: mua xe ô tô, lãi suất là 9,5%/ 1 năm, lãi suất quá hạn là 150 lần lãi suất trong hạn. Thời hạn vay 84 tháng. Quá trình vay, ông T chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc là 79.056.000 đồng và tiền lãi 54.013.937 đồng.

[3.2] Xét hợp đồng tín dụng số LD2305600282 ngày 14/3/2023, ngày 14/3/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần V có cho anh Trương Công T vay số tiền nợ gốc là 34.000.000 đồng, mục đích vay tiền: tiêu dùng, lãi suất là 20,5%/ 1 năm, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất quá hạn là 150 lần lãi suất trong hạn. Quá trình vay, ông T chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc 5.323.859 đồng, tiền lãi 3.721.905 đồng.

Xét thấy, khi ký kết hợp đồng, việc giao nhận tiền giữa Ngân hàng với anh T trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 116,117,119 Bộ luật dân sư năm 2015 nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Do anh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng như đã thỏa thuận nên anh T phải có nghĩa vu thanh toán nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 516.327.302 đồng. Trong đó khoản vay của Hợp đồng LD2205095720695 ngày 12/5/2022, nợ gốc là 335.944.000 đồng, lãi phát sinh là 130.950.088 đồng, lãi chậm trả là 3.801.046 đồng; khoản vay của Hợp đồng LD2305600282 ngày 25/02/2023, nợ gốc là 28.676.141 đồng, lãi phát sinh là 16.434.497 đồng, lãi chậm trả là 521.530 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ như Ngân hàng yêu cầu.

Riêng về việc ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu chị Nguyễn Thị Như Ý cùng anh T trả nợ vay và nợ lãi. Thấy rằng, việc ký kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng là do anh T tự thực hiện và ký tên, không có văn bản hay tài liệu nào thể hiện chị Như Ý cùng ký tên hay cùng chịu trách nhiệm cùng với anh T. Do không làm việc được với chị Ý nên không xác định được số tiền này anh T có sử dụng để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình không nên căn cứ vào khoản 3 Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình, không có căn cứ buộc chị Ý cùng anh T để trả nợ vay và lãi như Ngân hàng đã yêu cầu.

[4] Xét Hợp đồng thế chấp số LN 2205095720695 ngày 12/5/2022: Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp thể hiện, ông T và bà Như Ý có thế chấp cho Ngân hàng chiếc xe ô tô nhản hiệu: TOYOTA, Vios E, 1,5L, MT, số khung RL4B28F31N5121697, số máy 2NRX829823, biển số 94A-073.80 để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ; Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản đảm bảo, số đăng ký 1456972180 ngày 13/5/2022 do Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh cấp ra. Xét thấy Hợp đồng thế chấp và các văn bản khác được anh T cùng chị Như Ý và Ngân hàng ký kết trên tinh thần tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh T tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an xã H; hợp đồng thế chấp, thoả thuận về tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên hợp đồng thế chấp tài sản số LN 2205095720695 ngày 12/5/2022 ký kết giữa Ngân hàng với ông T bà Như Ý có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành tại thời điểm các bên tham gia ký kết. Từ đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với tài sản thế chấp nếu ông T và bà Như Ý không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc anh T phải chịu theo quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào các Điều 26; 35; 39; 92 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

-Căn cứ vào các Điều 116,117,119, 280, 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự;

-Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

-Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

-Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V đối với anh Trương Công T.
    1. Buộc anh Trương Công T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 516.327.302 đồng. Trong đó khoản vay của Hợp đồng LD2205095720695 ngày 12/5/2022 gồm: nợ gốc là 335.944.000 đồng, lãi phát sinh là 130.950.088 đồng, lãi chậm trả là 3.801.046 đồng; Khoản vay của Hợp đồng LD2305600282 ngày 25/02/2023 gồm: nợ gốc là 28.676.141 đồng, lãi phát sinh là 16.434.497 đồng, lãi chậm trả là 521.530 đồng.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
    3. Trường hợp anh Trương Công T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhản hiệu TOYOTA, Vios E, 1,5L, MT, số khung RL4B28F31N5121697, số máy 2NRX829823, biển số 94A-073.80 để thu hồi nợ.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần V về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Như Ý cùng anh Trương Công T trả nợ vay và lãi phát sinh.
  3. Về án phí:
    1. Buộc ông Trương Công T phải nộp án phí dân sự sư thẩm có giá ngạch số tiền là 24.653.092 đồng.
    2. Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần V phải nộp án phí dân sự không giá ngạch số tiền 300.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần V đã nộp tạm ứng án phí số tiền 11.100.000 đồng theo biên lai số 0011394 ngày 16/7/2025 nay được đối trừ 300.000 đồng án phí và được hoàn lại số tiền 10.800.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc cưởng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 105/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu Cầu TRả TIền VAY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger