|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/HS-PT
Ngày 13 tháng 11 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
1. Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Đình H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24/9/1944; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị Đ (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị Q, bị cáo có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1969 đến năm 1975 tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau xuất ngũ về địa phương. Bị cáo được Nhà nước trợ cấp chế độ người có công với cách mạng do bị nhiễm chất độc hoá học; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/5/2025, có mặt.
2
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Trịnh Huỳnh Q1 - Công ty L3 - Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
2. Bị hại: Cháu Lê Khánh L, sinh ngày 23/03/2014; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Hữu V, sinh năm 1989 (bố đẻ cháu L); nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phan Thị Minh H1 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- Đại diện Trường tiểu học V2: Bà Phạm Thị Hồng L1 – Chức vụ: Hiệu trưởng. Có đơn xin vắng mặt.
3. Người làm chứng: Bà Tạ Thị T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 06/12/2024, sau khi tan học về nhà, cháu Lê Khánh L đi xe đạp đến nhà cháu Nguyễn Nhật M và gửi xe đạp ở đó, rồi cháu L cùng M đi bộ đến đường gần cổng nhà anh Nguyễn Văn B chơi cùng với cháu Nguyễn Minh Q2 (con trai anh B). Chơi được khoảng 20 phút thì cháu M đi về trước, lúc này Nguyễn Đình H (là ông nội của cháu Q2) đi bộ từ trong nhà ra chỗ L và Q2 đang chơi, tay phải H cầm 01 hộp sữa Fami vỏ hộp màu vàng xanh. H nói với cháu Q2: “Đi về nhà ăn cơm”, nên Q2 đi bộ về nhà. H nói với cháu L: “Đi đến chỗ kia ông cho sữa” nên L đi bộ theo sau H đến ngôi nhà không có người ở của bà Trần Thị T1 tại thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đến nơi, H dùng chiếc chìa khóa cổng mà trước đó vào khoảng tháng 6/2024 mượn được của anh Ngô Chu T2 là người được bà T1 nhờ quản lý hộ nhà, mở khóa cổng và nói với L: “Vào chỗ này ông cho sữa”. H đi vào trước, L vào sau, Nguyễn Đình H khóa cổng lại rồi bảo L đi vào phía sau nhà bà T1 đến vị trí nền bê tông rồi đưa cho L 01 hộp sữa Fami. Lúc này, Nguyễn Đình H tự cởi quần vải dài màu xanh loại quần có cúc và khóa quần, tiếp đó cởi quần đùi màu xanh để trên nền
3
bê tông, không cởi áo. H dùng hai tay đẩy vào hai bên vai của L làm L ngã ngồi xuống và nằm ngửa xuống nền bê tông, L kêu “cứu” và dùng hai tay đẩy vào trước ngực của H nhưng không được. Hoằng nằm đè lên người L, dùng hai tay cởi quần thun dài màu đen, dọc hai bên ống quần có 03 sọc kẻ màu trắng của L (ống quần bên trái bị cởi ra khỏi chân, ống quần bên phải bị cởi đến mắt cá chân), tiếp đó bị cáo Hoằng cởi quần lót màu đỏ của L xuống ống quần bên phải. Bị cáo H dùng hai tay luồn vào bên trong áo sờ ngực L rồi dùng tay cầm dương vật cương cứng đưa vào âm đạo của L bốn lần nhưng không đưa vào được, đến lần thứ năm thì đưa vào được bên trong âm đạo của L. Bị đau ở bộ phận sinh dục, L dùng tay trái cào vào cạnh sườn lưng của H, H tiếp tục cho dương vật ra vào bên trong âm đạo L được một lúc thì xuất tinh vào trong âm đạo của L. Sau đó, H đứng dậy mặc quần, L cũng ngồi dậy tự lấy ra hai tờ giấy vệ sinh màu trắng để ở trong túi áo lúc trước do H đưa cho để lau bộ phận sinh dục, rồi L vứt hai tờ giấy đã lau tại vị trí vườn gần đó. L tự mặc quần vào, H nói với L “về đi”, rồi đi ra mở cổng, L đi bộ đến nhà M lấy xe đạp về nhà. Khi về nhà, L uống hộp sữa Hoằng đưa cho rồi vứt vỏ hộp sữa vào túi rác của gia đình, L vào nhà tắm thay quần dài và sử dụng móc quần áo để treo quần lên dây thép. Ngày 10/12/2024, bà Tạ Thị T là bà nội của cháu L thấy cháu L bị chậm kinh, bà hỏi thì L cho biết Nguyễn Đình H có hành vi xâm hại tình dục đối với L vào chiều ngày 06/12/2024. Ngày 11/12/2024, anh Lê Hữu V có đơn trình báo sự việc, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (cũ) xác minh làm rõ sự việc.
Ngày 11/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tình dục đối với cháu Lê Khánh L. Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 35/KLXHTD-TTPY ngày 19/12/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận: “Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục của cháu Lê Khánh L không thấy tổn thương mới; trên mẫu xét nghiệm dịch âm đạo không tìm thấy hình ảnh tinh trùng, xác tinh trùng; màng trinh cháu Lê Khánh L có vết rách cũ vị trí 10h; niêm mạc tử cung dày 10mm, định lượng Beta HCG: 101,78m UI/ml. Cháu Lê Khánh L có hiện tượng thụ thai; HIV âm tính; cơ thể cháu L không phát hiện dấu vết tổn thương mới”.
Kết luận giám định số 9853/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của V3 Bộ C1 kết luận: Trên chiếc quần dài của cháu L có bám dính ADN của Nguyễn Đình
4
H. Công văn số 981/C09-TT3 ngày 09/4/2025 của V3 Bộ C1 xác định ADN của Nguyễn Đình H được phát hiện bám dính tại vị trí đũng quần trên chiếc quần dài ghi thu của Lê Khánh L. Sổ khám bệnh của Lê Khánh L tại Bệnh viện P ngày 20/01/2025 xác định: Hiện tại cháu L không có thai ở trong và ngoài tử cung.
Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm o, x khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải có trách nhiệm bồi thường cho cháu Lê Khánh L tổng số tiền là 23.863.000 đồng.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 hộp bìa carton màu vàng được niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T (cũ) hoàn trả lại sau giám định bên trong có: 01 quần dài bằng vải màu xanh nhãn hiệu “TTBC- quân phục mùa hè - Cục Q3 Tổng công ty 28-2014” đã qua sử dụng; 01 quần đùi kiểu dáng bộ đội màu xanh, mỗi bên thân quần có 03 sọc bằng vải màu xanh da trời, cạp chun đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, cổ tròn đã qua sử dụng.
- - 01 chiếc áo phông, 01 chiếc quần dài, 01 quần lót nữ được niêm phong có chữ ký họ tên và dấu của V3 - Bộ C1.
- - 01 phong bì niêm phong do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (cũ) bên trong có 01 chiếc chìa khoá bằng kim loại màu sáng trắng, nhãn hiệu Việt Tiệp, được buộc bằng sợi dây loại dây bao xi măng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
5
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.193.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngày 06/8/2025, bị cáo Nguyễn Đình H kháng cáo: Bị cáo không thực hiện hành vi như Hội đồng xét xử xem xét và nhận định. Việc cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát đưa ra kết luận bị cáo có hành vi xâm hại cháu Lê Khánh L là không có cơ sở. Đồng thời, hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ chứng minh được bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bị cáo H không thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết, các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo còn non, việc thu thập, đánh giá chứng cứ vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Bị cáo H khẳng định không uống sữa Fami mà hộp sữa Fami theo mô tả của cháu Q2 là do chiều ngày 06/12/2024 khi đón cháu Q2 đi học về, cháu Q2 đòi mua sữa nên bị cáo mua cho Q2 uống.
Tại phiên tòa, cháu L khai: 02 tờ giấy cháu L sử dụng để lau bộ phận sinh dục sau khi bị hiếp dâm là loại giấy ăn mềm, do cháu L thường mang theo người để sử dụng vệ sinh cá nhân. Giữa cháu L và bị cáo H không có mâu thuẫn gì với nhau. Người đại diện theo pháp luật của cháu L trình bày: Gia đình anh và gia đình bị cáo H không có mâu thuẫn gì, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết, không đồng ý với bản luận tội của Kiểm sát viên. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình H tranh luận: Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy rằng việc chứng minh tội phạm chưa được thực hiện đúng quy định pháp luật, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không được thực hiện đầy đủ.
6
Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hưng Yên chỉ căn cứ duy nhất vào lời khai của cháu Lê Khánh L và chứng cứ là trên chiếc quần của cháu L có dính ADN của ông Nguyễn Đình H để xác định ông Nguyễn Đình H phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là chưa đảm bảo tính khách quan. Bởi:
- Các chứng cứ là lời khai không phù hợp với tình tiết vụ án, chưa thu thập đầy đủ lời khai của những người có liên quan.
- Lời khai của cháu Lê Khánh L: Cháu L khai bị ông H có hành vi hiếp dâm đối với cháu là điều dễ hiểu nhưng trong chính lời khai của cháu L cũng có sự mâu thuẫn về chi tiết liên quan đến nguồn gốc tờ giấy dùng để lau bộ phận sinh dục. Những lời khai ban đầu và ngay trong Kết luận điều tra cũng khẳng định hai tờ giấy có từ đầu trong túi áo của cháu L. Khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát, cháu L có sự thay đổi lời khai và ghi nhận rằng mảnh giấy là do ông H đưa cho.
- Đánh giá lời khai của cháu Nguyễn Vũ Nhật M, cháu Nguyễn Minh Q2 và cháu Lê Khánh L: Lời khai của cháu M, cháu Q2 đều không thể hiện việc ông H thực hiện hành vi hiếp dâm cháu L mà chỉ thể hiện ông H có mặt, gọi cháu Q2 về và về mô tả trang phục của ông H. Thậm chí tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/12/2024 của cháu Nhật M, cháu Q2 còn có lời khai thể hiện khi ra gọi cháu Q2 về ăn cơm thì ông H là người về trước, sau đó mới đến cháu Q2, cháu M và cháu L. Tại bút lục số 212, 213 cháu L khai: Khi đang chơi, M được mẹ gọi về, ông H ra gọi Q2 về ăn cơm (trên tay có cầm hộp sữa) và Q2 đã về nhà trước, còn lại ông H và L thì xảy ra việc ông H bảo cho L sữa và dẫn L đi đến nơi thực hiện hành vi. Tại bút lục số 253, cháu M khai “ông nội chú Q2 không mang gì theo ra”, do đó, tình tiết ông H đưa hộp sữa Fami cho cháu Khánh L như lời khai của cháu L là không phù hợp. Mặt khác, vỏ hộp sữa cơ quan điều tra cũng không thu thập được. Như vậy, trong lời khai của cháu Nhật M và cháu L đã có sự mâu thuẫn, do đó, việc Cáo trạng cũng như Bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của cháu L để ghi nhận diễn biến sự việc là chưa khách quan, toàn diện.
- Chưa thu thập đầy đủ lời khai: Dựa trên sơ đồ hiện trường và bản ảnh thể hiện địa điểm ông H thực hiện hành vi ở gần với nhà anh Đ1, nhà bà Ư, nhà bà T3. Ngoài ra, theo hồ sơ trong quá trình ông H dẫn L đi vào nhà bà T1 còn đi qua nhà bà L2, ông T2, ông H2. Chính vì vậy, việc lấy lời khai của những người nêu trên là hoàn toàn cần thiết để làm rõ các tình tiết trong vụ án. Do đó, cần
7
phải lấy lời khai của những người nêu trên về việc có thấy/nghe ông H ra gọi Q2 về không. Có thấy việc cháu L đi theo ông H không. Có thấy hoặc nghe tiếng ông H mở cổng nhà bà T1 không. Có nghe tiếng cháu L kêu to “cứu” không... Mặt khác tại Bút lục số 213, cháu L có khai nhận mẹ cháu Nhật M có gọi cháu Nhật M (Bơ) về. Đáng lẽ cơ quan điều tra cần thu thập lấy lời khai của mẹ cháu Nhật M về sự việc diễn ra ngày 06/12/2024 có việc mẹ cháu M gọi cháu M về không, có thấy ông H không. Để từ đó có cái nhìn tổng quát, đánh giá lời khai của cháu L có đúng không. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã hoàn toàn bỏ qua, không lấy lời khai của những người nêu trên. Việc không thu thập đầy đủ lời khai có thể ảnh hưởng đến việc xác định sự thật một cách khách quan, toàn diện, không tuân thủ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự là xác định sự thật của vụ án.
- Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ, thu thập đầy đủ, đánh giá chưa khách quan các chứng cứ cần thiết.
- Cơ quan tiến hành tố tụng chưa giám định sức khỏe sinh lý đối với ông Nguyễn Đình H là một thiếu sót rất nghiêm trọng trong việc thu thập các tài liệu, chứng cứ. Bởi việc giám định sức khỏe sinh lý đối với ông Nguyễn Đình H là điều cần thiết, đặc biệt là trong trường hợp ông H là người cao tuổi (thời điểm phạm tội đã 80 tuổi), có tiền sử bị bệnh tim (đã được can thiệp đặt 7 ống Stent), tiểu đường tuýp 2 (bút lục 324) để xác định khả năng sinh lý, khả năng cương dương của bộ phận sinh dục và khả năng quan hệ tình dục, xuất tinh để thực hiện hành vi hiếp dâm cháu L được không. Theo hồ sơ thể hiện ông H dùng sức đẩy ngã cháu L xuống nền bê tông, dùng tay cầm dương vật đút vào âm đạo của cháu L 04 lần nhưng không được, đến lần thứ 5 mới đưa được vào và tiếp tục quá trình được một lúc thì xuất tinh, như vậy nếu đúng theo như Bản kết luận điều tra và Cáo trạng thì sức khỏe của ông H vẫn tốt khi vừa có thể dùng sức khống chế cháu L, vừa dùng tay cầm dương vật đưa vào âm đạo của cháu L để thực hiện hành vi hiếp dâm. Điều này không phù hợp với tình trạng sức khỏe của một người cao tuổi với nhiều bệnh nền như ông H. Ngoài ra, trong bối cảnh chống cự như mô tả trong bản án, cháu L có thể nhớ rõ số lần ông H đưa dương vật vào âm đạo cháu L là điều cần phải cân nhắc và xem xét lại. Do đó, đối với vụ án này, việc giám định sức khỏe sinh lý nam giới đối với ông Nguyễn Đình H là rất cần thiết trong việc xác định yếu tố chủ quan về sức khỏe khi thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế đã có rất nhiều vụ án đã tiến hành giám định sức
8
khỏe sinh lý, khả năng quan hệ tình dục của người phạm tội để có thể đánh giá vụ án một cách toàn diện: Ông H có khả năng cương dương và xuất tinh hay không.
-
- Cơ quan tiến hành tố tụng không tiến hành giám định vân tay trên 02 tờ giấy dùng để lau bộ phận sinh dục của cháu L là thiếu sót trong quá trình điều tra, bởi lẽ: Việc xác định dấu vân tay đối với 02 mảnh giấy cháu L dùng để lau bộ phận sinh dục sau khi bị ông H thực hiện hành vi hiếp dâm giúp làm sáng tỏ nguồn gốc của 02 mảnh giấy này có từ đâu (do L có từ trước hay do ông H đưa cho), hai tờ giấy này có đúng là được L dùng để lau bộ phận sinh dục hay không. Bởi lẽ theo mô tả diễn biến vụ án cháu L có thừa nhận dùng hai mảnh giấy này để lau bộ phận sinh dục, khi đó sẽ phải tồn tại dấu vân tay của cháu L trên hai mảnh giấy này. Thậm chí nếu là vết rách màng trinh lần đầu, trong nhiều trường hợp, mảnh giấy còn có thể lưu cả vết máu, máu có thể lẫn trong tinh dịch chảy ra. Cơ quan giám định cũng khẳng định không có ADN của cháu L trên hai tờ giấy này. Chỉ khi xác định được vấn đề dấu vân tay, ADN trên hay mảnh giấy này thì mới xác định được có đúng là do cháu L dùng để lau bộ phận sinh dục sau khi bị hiếp dâm hay không. Mảnh giấy này có được coi là vật chứng trong vụ án hay không. Cơ quan điều tra chỉ căn cứ vào việc tại hiện trường có thu thập được hai mảnh giấy này để đánh giá rằng hai mảnh giấy này là vật chứng của vụ án là chưa thuyết phục bởi tại M, Kết luận giám định số 9853/KL-KTHS ban hành ngày 24/01/2025 của V3 - Bộ C1 đã ghi nhận như sau: Không phát hiện thấy tinh trùng bám dính trên các mảnh giấy ghi thu tại hiện trường; không phát hiện thấy ADN của Lê Khánh L bám dính trên các mảnh giấy ghi thu tại hiện trường.
Đánh giá thêm về 02 mảnh giấy này, luật sư cho rằng đây không đủ điều kiện để được xác định là vật chứng trong vụ án. Bởi căn cứ vào Kết luận giám định số 9853/KL-KTHS của V3 Bộ C1 thể hiện 02 mảnh giấy này không hề có dấu vết của tội phạm.
-
- Không đủ căn cứ vững chắc để xác định ông Nguyễn Đình H phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi bởi: Thứ nhất, tại các Biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Đình H khẳng định không hề thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Lê Khánh L, giữa ông và cháu L, gia đình cháu L không hề có mâu thuẫn, không có động cơ, mục đích để thực hiện hành vi này. Thứ hai, các lời khai có trong hồ sơ vụ án chưa đủ tính khách quan, lời khai của cháu L và có những người có liên
9
quan trọng vụ án còn có những điểm mâu thuẫn. Ngay cả trong lời khai của cháu L cũng thể hiện sự mâu thuẫn liên quan đến nguồn gốc của mảnh giấy thu tại hiện trường. Thứ ba, không đủ chứng cứ vật chất để xác định ông Nguyễn Đình H thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Lê Khánh L. Trong vụ án này, chứng cứ quan trọng nhất để xác định hành vi của ông Nguyễn Đình H có cấu thành tội phạm không chính là các Kết luận giám định. Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hưng Yên xác định căn cứ vào kết luận giám định có ADN của Nguyễn Đình H trên đũng chiếc quần dài của cháu Lê Khánh L từ đó xác định ông H thực hành vi hiếp dâm là không đủ căn cứ, mâu thuẫn với các chứng cứ khác có trong vụ án.
Tất cả các kết luận giám định xâm hại tình dục, giám định sinh học, kết quả kiểm tra dấu vết trên thân thể đều không thể hiện có tinh trùng, xác tinh trùng của ông H trên vật chứng có trong vụ án, chỉ dựa vào mẫu ADN bám dính trên đũng quần dài của cháu L không thể khẳng định được ông H có hành vi hiếp dâm. Như vậy, các chứng cứ vật chất quan trọng nhất có thể dùng để chứng minh hành vi phạm tội đều thể hiện không có tinh trùng, xác tinh trùng, ADN, dấu vân tay của ông Nguyễn Đình H. Ngoài lời khai của cháu L và dấu vết ADN bám dính trên đũng quần dài của cháu L thì không còn chứng cứ nào khác cho thấy ông H thực hiện hành vi phạm tội. Tại các Kết luận giám định số 9853/KLGĐ ban hành ngày 24/01/2025 của V3 Bộ C1 và Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T cũng khẳng định không có dấu vết tinh dịch và xác tinh trùng của ông Nguyễn Đình H. Ngay cả chi tiết, ông H có hay không đưa hộp sữa cho cháu L thì cũng cần phải đánh giá lại, bởi theo lời khai của cháu Nhật M thì cháu không nhìn ông H cầm theo bên người hộp sữa. Hộp sữa cũng không có để xác định, mà chỉ căn cứ vào lời khai của cháu L. Các diễn biến hành vi trong Kết luận điều tra, Cáo trạng đều chỉ dựa vào lời khai duy nhất của cháu L nên chưa khách quan. Mặt khác, theo như lời khai của cháu L cháu có dùng tay trái cào vào cạnh sườn bên phải của ông H nhưng qua kiểm tra dấu vết trên cơ thể của ông H thì không có bất cứ thương tích nào.
Việc Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hưng Yên căn cứ vào các tài liệu như đã phân tích ở trên để xét xử tuyên ông H phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi dẫn đến bản án có dấu hiệu không khách quan, các chứng cứ mà Tòa án dùng để định tội ông H không có tính hợp lý, phù hợp và khách quan với diễn biến, bản
10
chất vụ án. Các chứng cứ để khẳng định ông Nguyễn Đình H phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là chưa đầy đủ, toàn diện và thiếu cơ sở pháp lý. Đặc biệt, là việc Cơ quan điều tra Công an tỉnh T không tiến hành trưng cầu giám định sức khỏe sinh lý đối với ông Nguyễn Đình H trong vụ án này là một vi phạm rất nghiêm trọng về mặt tố tụng.
Như đã phân tích ở trên trong quá trình điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ và chứng minh ở cấp sơ thẩm được thực hiện chưa đầy đủ, việc đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện dẫn đến việc giải quyết vụ án hình sự chưa được khách quan, sự thật của vụ án chưa được làm sáng tỏ và việc khắc phục, bổ sung ở giai đoạn phúc thẩm là không thể thực hiện được. Như vậy, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm vi phạm rất nghiêm trọng về mặt tố tụng. Do đó căn cứ điểm b, c Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên để điều tra lại.
Bị cáo Nguyễn Đình H đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư, không bổ sung gì.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại tranh luận: Không đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối đáp: Luật sư cho rằng cần phải giám định vân tay đối với hai tờ giấy vệ sinh cháu L sử dụng để lau bộ phận sinh dục sau khi bị hiếp dâm là không thể thực hiện được bởi đây là loại giấy mềm, xốp không in bám dấu vân tay được. Tại phiên tòa, cháu L xác nhận 02 tờ giấy vệ sinh đó do cháu L mang theo người để sử dụng vào việc cá nhân, đồng thời theo công văn giải thích của V3 - Bộ C1 thể hiện: Thời gian tồn tại của tinh trùng, ADN trong điều kiện ngoài trời phụ thuộc vào các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm của môi trường, điều kiện thời tiết nắng, mưa, phụ thuộc sinh vật sống trong môi trường như gián, kiến, côn trùng. Khi gặp điều kiện ngoài trời bất lợi như nhiệt độ, độ ẩm cao, mưa gió, dấu vết tinh trùng bị gián, kiến, côn trùng ăn mất thì chất lượng dấu vết kém, không đủ cơ sở để giám định ADN. Vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng xác định 02 tờ giấy thu được tại hiện trường vụ án mặc dù không có dấu vết tinh trùng hay ADN của bị cáo H hoặc cháu L nhưng vẫn xác định là vật chứng vụ án bởi đó là chứng cứ chứng minh lời khai của cháu L về diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo H là sự thật.
11
Các tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ vật chất là kết luận giám định xác định có ADN của bị cáo H trên đũng quần của cháu L là có đủ căn cứ buộc tội đối với bị cáo, không cần thiết phải giám định sức khoẻ sinh lý tình dục của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không thực hiện hành vi hiếp dâm cháu L nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
- [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đình H thì thấy: Bị cáo H kêu oan, cho rằng không thực hiện hành vi hiếp dâm đối với cháu Lê Khánh L. Luật sư bào chữa cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ nên đề nghị huỷ án sơ thẩm để điều tra lại. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để buộc tội bị cáo như sau: Thứ nhất, tại phiên tòa phúc thẩm cũng như các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đình H đều khẳng định không gặp cháu L từ khoảng 3-4 tháng trước, ngày 06/12/2024 bị cáo không gặp cháu L nhưng lời khai của cháu Nguyễn Vũ Nhật M, cháu Nguyễn Minh Q2 (cháu nội bị cáo) và bị hại là cháu Lê Khánh L đều khẳng định khoảng thời gian 17 giờ chiều ngày 06/12/2024, cháu L chơi cùng cháu M, cháu Q2 trước cửa nhà bị cáo H, bị cáo H ra ngoài gọi Q2 về ăn cơm, Q2 vào nhà trước, sau đó cháu M về và cháu L về sau cùng. Điều này khẳng định việc bị cáo H có gặp cháu L vào chiều ngày 06/12/2024 nhưng bị cáo lại khai không gặp cháu L nhiều tháng nay nhằm đưa ra các chứng cứ ngoại phạm để chối tội. Thứ hai, cháu L và gia đình cháu L đều khẳng định từ lâu không cho L uống sữa vì cháu L phát triển sớm, còn cháu Q2 (cháu nội bị cáo H) khai: Ông nội Q2 thường uống sữa đậu nành dạng hộp, có vỏ màu vàng, chữ màu xanh. Mô tả về vỏ hộp sữa bị cáo H thường uống phù hợp với nhãn mác sữa Fami của V1 và phù hợp với lời khai của cháu L về việc bị cáo H, sau khi thực hiện hành vi phạm tội với cháu L thì bị cáo cho cháu L một hộp sữa Fami để uống. Thứ ba, tại bản Kết luận giám định số 9853/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của V3 Bộ C1 kết luận: Trên chiếc quần dài của cháu L
12
có bám dính ADN của Nguyễn Đình H. Gia đình bị cáo, bị cáo và bị hại, gia đình bị hại không có mâu thuẫn, thù oán gì với nhau và với tâm sinh lý, nhận thức của bị hại khi mới 10 năm 8 tháng 13 ngày tuổi không thể nghĩ ra và mô tả lại hành vi của bị cáo nếu không có sự việc đó xảy ra. Mặt khác, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, quần áo của bị hại, quần áo của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, các vật chứng phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường thu được 02 tờ giấy phù hợp với lời khai của bị cáo về việc sử dụng 02 tờ giấy này để lau bộ phận sinh dục sau khi quan hệ tình dục, kết luận giám định (có ADN ở đũng quần dài mà bị hại mặc khi bị bị cáo H xâm hại). Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng phải giám định sức khoẻ sinh lý của bị cáo để xác định bị cáo có đủ khả năng thực hiện hành vi xâm phạm tình dục không là không cần thiết bởi yếu tố này không quyết định hành vi phạm tội, không phải là căn cứ để xác định một người có phạm tội hay không. Quan trọng hơn, đã có đầy đủ tài liệu, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo như đã phân tích nêu trên. Luật sư còn cho rằng, phải lấy lời khai của những người ở gần nơi xảy ra vụ án để xem họ có nhìn thấy bị cáo H dẫn cháu L vào nhà bà T1 không, có nghe thấy tiếng mở cổng không, có nghe thấy tiếng kêu cứu của cháu L không là có căn cứ, bởi bị cáo H khai không thực hiện hành vi phạm tội, còn cháu L khai không gặp ai trên đường đi nên không thể xác định những người ở gần nhà bà T1 là những người làm chứng để lấy lời khai của họ. Tại kết luận giám định của V3 - Bộ C1 đã xác định không có ADN, xác tinh trùng trên 02 tờ giấy thu tại hiện trường vụ án nhưng vẫn được xác định là vật chứng vụ án bởi đó là chứng cứ chứng minh lời khai của cháu L về một trong những diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo.
- [3] Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ buộc tội đối với bị cáo Nguyễn Đình H. Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và xử phạt bị cáo 10 năm 06 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Đình H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H không được chấp nhận, bị cáo là người cao tuổi nhưng không có đơn đề nghị miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
13
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo các bị cáo Nguyễn Đình H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm o, x khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 592 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải có trách nhiệm bồi thường cho cháu Lê Khánh L tổng số tiền là 23.863.000 đồng.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 hộp bìa carton màu vàng được niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T (cũ) hoàn trả lại sau giám định bên trong có: 01 quần dài bằng vải màu xanh nhãn hiệu “TTBC- quân phục mùa hè - Cục Q3 Tổng công ty 28-2014” đã qua sử dụng; 01 quần đùi kiểu dáng bộ đội màu xanh, mỗi bên thân quần có 03 sọc bằng vải màu xanh da trời, cạp chun đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, cổ tròn đã qua sử dụng.
- - 01 chiếc áo phông, 01 chiếc quần dài, 01 quần lót nữ được niêm phong có chữ ký họ tên và dấu của V3 Bộ C1.
- - 01 phong bì niêm phong do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (cũ) bên trong có 01 chiếc chìa khoá bằng kim loại màu sáng trắng, nhãn hiệu Việt Tiệp, được buộc bằng sợi dây loại dây bao xi măng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.193.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
14
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 13/11/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 102/2025/HS-PT ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (hiếp dâm người dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 102/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Hiếp dâm người dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Hoằng phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
