TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 9 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Trung Nghĩa.
Bà Phạm Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 “về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Thạch Văn C, sinh ngày 13/8/1995 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
- Địa chỉ: ấp L, phường V, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: chị Thạch Thị D, sinh ngày 19/6/1998 “vắng mặt”.
- Địa chỉ: ấp N, phường K, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 5 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Thạch Văn C trình bày:
- Về hôn nhân: anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/2022 tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn anh C và chị D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh C1 và chị D đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay, nên anh C1 yêu cầu ly hôn với chị D.
- Về con chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D có 03 người con chung tên Thạch Thị T, sinh ngày 27/11/2020, Thạch Thị T1, sinh ngày 22/9/2022 và Thạch Thị T2, sinh ngày 07/01/2024. Hiện nay anh C đang nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2; chị D đang nuôi dưỡng cháu T. Anh Chương yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2 cho đến khi cháu T1 và cháu T2 thành niên; anh C thống nhất giao cháu T cho chị D nuôi dưỡng cho đến khi cháu T thành niên. Anh C không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con và anh C cũng không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có tài sản chung, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Thạch Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
* Bị đơn là chị Thạch Thị D đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ), nên chị D đã biết được yêu cầu khởi kiện của anh Thạch Văn C. Chị D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh C.
Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập chị Thạch Thị D tham gia phiên tòa hai lần hợp lệ, nhưng chị D vắng mặt không có lý do và chị D cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 5 năm 2025 của nguyên đơn anh Thạch Văn C thì anh C kiện chị Thạch Thị D là bị đơn cư trú tại ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp N, phường K, thành phố Cần Thơ), nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn anh Thạch Văn C khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với bị đơn chị Thạch Thị D, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Anh Thạch Văn C là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
[1.4] Chị Thạch Thị D là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị D.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh C và chị D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ) theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của anh C và chị D là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh C và chị D chung sống hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên anh C và chị D sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì anh C và chị D không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024. Từ khi sống ly thân cho đến nay anh C và chị D không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, anh C yêu cầu được ly hôn; chị D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh C.
Xét thấy: hiện nay hôn nhân của anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh Chương yêu cầu được ly hôn với chị D là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho anh C được ly hôn với chị D.
[3] Về con chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D có 03 người con chung tên Thạch Thị T, sinh ngày 27/11/2020, Thạch Thị T1, sinh ngày 22/9/2022 và Thạch Thị T2, sinh ngày 07/01/2024. Từ khi anh C và chị D sống ly thân cho đến nay anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2; chị D trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Anh Chương yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2 và thống nhất cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng cháu T; chị D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh C.
Xét thấy: từ khi anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D sống ly thân cho đến nay anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Thị T1 và cháu Thạch Thị T2; chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Thị T. Hiện nay cháu T1 và cháu T2 đang có cuộc sống ổn định cùng với anh C; cháu T đang có cuộc sống ổn định cùng với chị D. Anh Chương yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2 và thống nhất cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng cháu T; chị D không có ý kiến phản đối, nên việc anh C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2 và giao cháu T cho chị D nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T, cháu T1, cháu T2 và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh C, xử giao cháu T1 và cháu T2 cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 và cháu T2 thành niên; giao cháu T cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T thành niên. Do anh C và chị D không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh C và chị D không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh C và chị D, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có tài sản chung, anh C và chị D không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: trong thời gian chung sống anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có nợ chung, anh C và chị D không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc anh Thạch Văn C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002067 ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố C (khu vực 8), như vậy anh C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị Thạch Thị D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thạch Văn C.
- Về hôn nhân: xử cho anh Thạch Văn C được ly hôn với chị Thạch Thị D.
- Về con chung: giao cháu Thạch Thị T1, sinh ngày 22/9/2022 và cháu Thạch Thị T2, sinh ngày 07/01/2024 cho anh Thạch Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 và cháu T2 thành niên; giao cháu Thạch Thị T, sinh ngày 27/11/2020 cho chị Thạch Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T thành niên.
Anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh C và chị D không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: anh Thạch Văn C và chị Thạch Thị D không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: anh Thạch Văn C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002067 ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố C (khu vực 8), như vậy anh C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị Thạch Thị D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn anh Thạch Văn C và bị đơn chị Thạch Thị D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Liên Lâm Anh Thảo |
Bản án số 102/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 102/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Thạch Văn C yêu cầu ly hôn với chị Thạch Thị D
