Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/DS-ST

Ngày: 29/9/2025

“V/v tranh chấp chia thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Minh.

2. Bà Nguyễn Thanh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 35/2025/TLST-DS ngày 03/3/2025 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-DS ngày 25/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2025/QĐST-DS ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đỗ Ngọc L, sinh năm 1957; Căn cước công dân số: [...].

Địa chỉ: Số A, tổ A, ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: Số A, tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp); Điện thoại: 0987.114.xxx.

Đại diện theo ủy quyền: Đỗ Nhựt Q, sinh năm 1964; Căn cước công dân số: [...] (có mặt).

Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: Số C, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp); Điện thoại: 0918.182.xxx

- Bị đơn: Đỗ Văn P, sinh năm 1953 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Hồ Kim H, sinh năm 1954; Căn cước công dân số: [...] (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Đỗ Thành H1, sinh năm 1979; Căn cước công dân số: 0870790114996 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Đỗ Thành T, sinh năm 1981; Căn cước công dân số: [...] vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Đỗ Thành P1, sinh năm 1985; Căn cước công dân số: [...] vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp (Địa chỉ trước khi sắp xếp: Khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Nhựt Q trình bày:

Bà Đỗ Ngọc L là con của cụ Đỗ Văn N và cụ Lê Thị P2. Cụ P2 chết năm 1998, cụ N mất năm 2016, cụ N, cụ P2 chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N, cụ P2 gồm 04 người: Đỗ Văn P, sinh năm 1953, Đỗ Văn H2, sinh năm 1954 (chết năm 19/02/2025), Đỗ Ngọc L, sinh năm 1957, Đỗ Văn T1 sinh năm 1959 (chết 1978 không người thừa kế) ngoài ra không còn người thừa kế nào khác. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn H2 gồm: Hồ Kim H, sinh năm 1954, Đỗ Thành H1, sinh năm 1979, Đỗ Thành T, sinh năm 1981, Đỗ Thành P1, sinh năm 1985. Khi còn sống cụ N, cụ P2 đã phân chia, tặng cho tài sản cho các con xong.

Ngoài ra, do cụ N là gia đình chính sách nên được Nhà nước cho mua trả chậm nền nhà số A, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m², số tiền phải trả là 6.736.000 đồng theo Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/11/2013. Cụ N và bà L quản lý và sử dụng nền nhà số 14, Lô D, thửa đất số 135 từ khi được giao đất cho đến nay. Thửa đất số 135 giao nền trả chậm cho hộ cụ Đỗ Văn N nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa trả tiền xong. Đối với căn nhà trên thửa 135 là nhà tình nghĩa Nhà nước hỗ trợ 45.000.000 đồng, còn lại bà L phụ vào để xây dựng.

Hiện nay thửa đất số 135 và căn nhà do bà L đang quản lý, sử dụng, bà L không yêu cầu Tòa án định giá, bà L tự đưa ra giá trị thửa đất số 135 là 1.000.000 đồng/m² (tổng giá trị thửa đất là 84.200.000 đồng). Bà L không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, đo đạc và định giá. Bà L thống nhất việc ông P, bà H, anh H1, anh T, anh P1 từ chối chia thừa kế nền nhà số A, Lô D, thửa đất số 135 và tài sản trên đất. Do những người thừa kế của cụ N đã từ chối nên bà Đỗ Ngọc L1 yêu cầu như sau:

Bà Đỗ Ngọc L yêu cầu được nhận, hưởng thừa kế toàn bộ nền số 14, Lô D, thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc Cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và tài sản trên đất. Bà L yêu cầu được quản lý sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với 14, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc Cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 25/9/2025 bị đơn ông Đỗ Văn P trình bày: Ông P không tranh chấp đối với nền nhà số A, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc Cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, về tài sản trên đất là của bà L. Ông P không yêu cầu chia thừa kế và từ chối nhận di sản là nền nhà số A, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc Cụm dân cư thị trấn C, ông P không có ý kiến gì về việc bà L kê khai đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 135.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 23/5 và 29/5/2025 những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Kim H, Đỗ Thành H1, Đỗ Thành T, Đỗ Thành P1 trình bày:

Bà Hồ Kim H, anh Đỗ Thành H1, anh Đỗ Thành T, anh Đỗ Thành P1 xác định không tranh chấp, không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 135, nhà và tài sản trên trên đất. Trường hợp, Thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m², căn nhà và tài sản trên đất được chia đều theo pháp luật thì bà H, anh H1, anh T, anh P1 đồng ý nhận và giao lại cho bà L.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Trong hồ sơ vụ án chưa có sơ đồ, chưa định giá nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm chứng cứ là đo đạc lại thửa đất số 135 và định giá tài sản trên đất. Do đó đại diện Viện kiểm sát không phát biểu ý kiến về việc tuân thủ trình tự thủ tục và đường lối giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà L yêu cầu hưởng thừa kế nền số 14, Lô D, thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc Cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và tài sản trên đất. Đất tọa lạc tại Cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp). Căn cứ Điều 26, 27 Luật Đất đai; Điều 609, 611, 614 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sư. Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp chia thừa kế” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp.

[2] Về việc xét việc vắng mặt các đương sự: Hồ Kim H, Đỗ Thành H1, Đỗ Thành T, Đỗ Thành P1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Đỗ Văn P vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đồng thời đã hoãn phiên tòa ngày 11/9/2025 đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn cho các đương sự, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về hộ gia đình sử dụng đất của cụ N: Thời điểm Nhà nước cấp Quyết định là ngày 13/11/2013. Theo sổ hộ khẩu số [...] thì hộ cụ N gồm bà L, cụ N và 02 người con bà L là chị T2, anh T3 tuy nhiên theo lời khai ngày 26/9/2025 chị T2, anh T3 xác định chỉ ở trên đất không có công sức đóng góp gì nên không tranh chấp, không yêu cầu gì đối với thửa đất số 135 và tài sản trên đất. Căn cứ khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai Hội đồng xét xử xác định hộ gia đình sử dụng đất của cụ N gồm 02 người là: Cụ N và bà L.

[4] Về di sản tranh chấp thừa kế của cụ N: Nền số 14, Lô D, thửa đất số 135 và tài sản trên đất. Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số 135 đã được nhà nước cấp cho hộ cụ N theo Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/11/2013 và cụ N phải trả số tiền 6.736.000 đồng. Tuy nhiên, bà L là con, sống chung với cụ N bà L đã thực hiện trả xong số tiền 6.736.000 đồng theo các biên lai thu vào các ngày 24/5/2019; 19/11/2020; 09/12/2021 và 20/5/2022 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với căn nhà trên thửa đất số 135 được Nhà nước cấp nhà tình nghĩa theo Quyết định số 392/QĐ-UBND ngày 20/8/2014 bà L thừa nhận thửa đất số 135 và nhà trên đất là của cụ N. Căn cứ Điều 612 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định thửa đất số 135 và tài sản trên đất là di sản của cụ N.

[5] Về xác định người thừa kế: Theo trích lục khai tử số 331/TLKT-BS ngày 09/7/2024 cụ P2 chết vào ngày 02/11/1998; Trích lục khai từ số 73/TLKT ngày 10/8/2016 cụ N chết vào ngày 05/8/2016. Theo tờ khai hàng thừa kế có xác nhận của UBND thị trấn C (nay là UBND xã P) xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ N gồm 04 người: Đỗ Văn P, Đỗ Văn H2, Đỗ Ngọc L, Đỗ Văn T1 sinh năm 1959 (chết 1978 không người thừa kế). Theo trích lục khai tử 26/TLKT ngày 19/4/2025 ông Đỗ Văn H2 chết ngày 20/02/2025; Theo tờ khai hàng thừa kế ngày 28/4/2025 có xác nhận của UBND thị trấn C (nay là UBND xã P) xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông H2 gồm 04 người: Hồ Kim H, Đỗ Thành H1, Đỗ Thành T, Đỗ Thành P1, ngoài ra không còn người thừa kế thứ nhất nào khác. Căn cứ vào Điều 651, 652 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xác định những người thừa kế thứ nhất của cụ N tại thời điểm cụ N chết là 03 người và những người thừa kế thứ nhất của ông H2 tại thời điểm ông H2 chết gồm 04 người như trên là đúng quy định của pháp luật.

[6] Xét yêu cầu hưởng nền số 14, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23, diện tích 84,2m² thuộc cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) và tài sản trên đất của bà L. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà L là người trực tiếp trả toàn bộ số tiền nền nhà số A, Lô D, thửa đất số 135, bà L là con ruột, ở trên thửa 135 sinh sống với cụ N từ khi được giao đất cho đến khi cụ N chết, hiện nay bà L vẫn đang sinh sống, quản lý và sử dụng thửa đất số 135 và tài sản trên đất. Ông P tuy không đến Tòa án, không chịu ký tên nhưng qua lời khai ngày 25/9/2025 có người làm chứng và có xác nhận của UBND xã P thì ông P từ chối nhận, không tranh chấp, không ý kiến khi bà L đứng tên thửa đất số 135 và quản lý sử dụng tài sản trên đất, những người thừa kế của ông H2 cũng xác định không tranh chấp, không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 135 và tài sản trên trên đất, đồng ý giao cho bà L. Căn cứ Điều 620 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự và sự tự nguyện này không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của đương sự.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Đỗ Ngọc L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bà L là người cao tuổi và có đơn xin miện tiền án phí dân sự sơ thẩm nên miễn cho bà L.

[8] Về chi phí tố tụng khác: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng.

Bà Đỗ Ngọc L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy là sự tự nguyện của bà L nên ghi nhận.

[9] Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để đo đạc và định giá nên không phát biểu về tố tụng và đường lối giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Biên bản xem xét thẩm định thửa đất số 135 là nền nhà khu dân cư mặt trước giáp đường, mặt sau giáp lối thoát hiểm, hai bên giáp đất ông B, ông T4. Ông B1, ông T4 cũng đã xây dựng hết đất giáp với bà L, nhà trên thửa đất số 135 cũng là nhà tình nghĩa theo Quyết định số 392/QĐ-UBND ngày 20/8/2014. Đồng thời trong vụ án không có bất kỳ đương sự nào yêu cầu đo đạc, yêu cầu định giá, thửa đất số 135 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà L kê khai theo Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/11/2013 của UBND huyện C (nay là xã P). Ngoài ra những người thuộc hàng thừa kế của cụ N cũng không tranh chấp, từ chối nhận thừa kế, bà L là người trả toàn bộ tiền theo Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/11/2013. Từ các lập luận trên Hội đồng xét xử xét thấy với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 156, 157, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 609, 612, 611, 614, 620, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 3, 26, 27 Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Ngọc L về việc yêu cầu được hưởng nền số 14, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23 thuộc cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) và tài sản trên đất

    Bà Đỗ Ngọc L được quyền quản lý, sử dụng và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nền số 14, Lô D, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 23 thuộc cụm dân cư thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) theo Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/11/2013 của UBND huyện C (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) và tài sản trên đất.

    Bà Đỗ Ngọc L được đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, dăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đỗ Ngọc L
  3. Về chi phí tố tụng khác: Bà Đỗ Ngọc L đồng ý chịu 400.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền tạm ứng bà Đỗ Ngọc L đã nộp 400.000 đồng được trừ và chi phí bà L phải chịu (bà L đã nộp và chi xong).
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát ND khu vực 8 – Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án DS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 102/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger