Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HSST

Ngày 09/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng; Bà Hà Thị Thơm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thúy Phượng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên

Ngày 09/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 06/11/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025 đối với bị cáo: VÀNG THỊ D; Tên gọi khác: Lù Thị S; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 05/3/1984, tại xã M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: không; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Lù A T (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Giàng Thị M (không xác định được năm sinh, đã chết); Gia đình bị cáo có 03 chị, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có chồng là Giàng A C, sinh năm 1975 và 06 người con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án: ngày 31/05/2021 bị Tòa án huyện T (cũ), tỉnh Lai Châu tuyên phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 27/4/2024, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 27/11/2015 bị Tòa án huyện T (cũ), tỉnh Lai Châu tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/7/2025, đến ngày 18/7/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại bản S, xã M, tỉnh Lai Châu (do bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi) cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo Vàng Thị D khai nhận: khoảng 08 giờ ngày 15/7/2025, khi Vàng Thị D đang ở nhà mình tại bản Sắp Ngua, xã M, tỉnh Lai Châu thì có một người phụ nữ không rõ lai lịch đến ga bán Heroine cho D. Qua nói chuyện, Vàng Thị D đã mua của người phụ nữ đó 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu hồng) với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Mua được H, D cất giấu trong cạp quần (dạng mặc) không cho ai biết. Trong các ngày 15, ngày 16/7/2025, Vàng Thị D đã nhiều lần lấy gói Heroine ra cấu lấy sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại chưa sử dụng hết, Vàng Thị D cất giấu trong cạp quần. Đến hồi 17 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, khi Vàng Thị D đang ở trong bản Sắp Ngua, xã M, tỉnh Lai Châu thì thấy Công an xã M đi tuần tra. Do sợ hành vi phạm tội của mình bị Công an phát hiện, Vàng Thị D đã lấy gói Heroine trong cạp quần ra rồi cất giấu dưới manh ngói để dưới đất nhằm tiêu hủy chứng cứ thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện. Lúc này, Vàng Thị D đã tự giác nhặt 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu hồng) lên giao nộp cho Công an xã M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 579 ngày 18/7/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “sổ chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Thị D có khối lượng 1,20 gam; là ma túy, loại: Heroine”.

Vật chứng: 1,20 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích 0,29 gam gửi giám định (không hoàn lại), còn lại 0,91 gam; 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu, số vật chứng còn lại đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 14/CT-VKSKV2 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, truy tố bị cáo Vàng Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên phạt bị cáo Vàng Thị D mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu 0,91 gam Heroine còn lại; 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu để tiêu hủy.

Lời nói sau cùng, bị cáo Vàng Thị D xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo Vàng Thị D là phụ nữ, người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, từ nhỏ không được học hành, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng với quy định tại Điều 73/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: hồi 17 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, tại bản S, xã M, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 1,20 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
  3. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Vàng Thị D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là vấn đề nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
  4. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Vàng Thị D là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu nghiện chất ma túy của bản thân bị cáo.
  5. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vàng Thị D được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không chịu khó tu dưỡng mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó bị cáo đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu, đã từng bị kết án mua bán trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, từ nhỏ không được học hành, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Thị D phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp “Tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là nông dân, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  7. Về vật chứng: Khối lượng 0,29 gam Heroine đã làm mẫu vật gửi đi giám định không hoàn lại ma túy nên HĐXX không xem xét; 0,91 gam Heroine còn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
  8. Về vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H, bị cáo Vàng Thị D khai mua của một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  9. Về án phí: Bị cáo Vàng Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị D (Lù Thị S) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị D 04 (bốn) năm tù, được trừ 01 (một) ngày tạm giữ, nay buộc bị cáo phải thi hành tiếp 03 (ba) năm 11 (mười một) tháng 29 (hai mươi chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào các cơ sở giam, giữ để chấp hành hình phạt tù.
  3. Về vật chứng: 0,91 gam Heroine còn lại 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu để tiêu huỷ.

    Số vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu.

  4. Về án phí: Bị cáo Vàng Thị D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - PV06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND khu vực 2 - Lai Châu;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam T;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng Thị D tàng trữ 1,20 gam Heroine để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger