|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/KDTM-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025
Về việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Đức Thọ
- Ông Nguyễn Văn Luận
- Thư ký phiên toà: Bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1- Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLST- DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐST- KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST- KDTM ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (tên viết tắt B); địa chỉ: T, số A T, phường H, thành phố Hà Nội (trước ngày 01/7/2025 là phường L, quận H, Thành phố Hà Nội);
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Quang Đ, ông Nguyễn Huy S và ông Nguyễn Quốc T; địa chỉ: Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh N1, đường L, phường H, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 là phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình); là người đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 513/QĐ-BIDV.NB ngày 08/4/2025);
- Bị đơn: Anh Phạm Nam P sinh năm 1974 - chủ hộ kinh doanh cá thể Phạm Nam P; địa chỉ: số B, ngách A, đường H, phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 là phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị Thủy S1 năm 1978; địa chỉ: số B, ngách A, đường H, phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 là phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình);
+ Ông Phạm Ngọc V sinh năm 1942 và bà Đỗ Thị L sinh năm 1951; cùng địa chỉ: số H, ngách A, đường H, phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 là phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình);
Tại phiên tòa có mặt ông T; vắng mặt ông Đ, ông S, anh P, chị T1, ông V và bà L (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc T trình bày: Anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 là khách hàng vay tại Ngân hàng TMCP Đ1 (B) - Chi nhánh N1. Trên cơ sở đề nghị vay vốn của anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1, B đã cấp tín dụng cho anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1. Theo Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD ký ngày 28/09/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và anh P, chị T1 thì số tiền Ngân hàng cho vay là 245.000.000 đồng; Thời hạn vay là 09 tháng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh hàng mộc; Lãi suất cho vay 10%/năm.
Để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 tại B, ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L đã sử dụng bất động sản của mình để thế chấp cho B theo Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 giữa ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L với B. Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 719781 do UBND thành phố N cấp ngày 19/11/2008 cho ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L. Hợp đồng thế chấp đã được công chúng và đăng ký giao dịch bảo đảm.
Quá trình thực hiện hợp đồng anh P, chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với B. B đã nhiều lần yêu cầu anh P và chị T1 thực hiện nghĩa vụ theo đúng cam kết tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký với Ngân hàng. Tuy nhiên, đến nay anh P và chị T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B. Do vậy, Ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1- Ninh Bình giải quyết các yêu cầu sau:
Buộc anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 trả nợ cho B toàn bộ số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 29/9/2025 là 478.566.005 đồng trong đó: Nợ gốc 245.000.000 đồng; lãi trên nợ gốc trong hạn 155.254.658 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn 76.688.356 đồng; lãi chậm trả 1.352.991 đồng.
Anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả và các chi phí khác (nếu có) phát sinh từ ngày 30/9/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD ký ngày 28/9/2018 cho đến khi anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với B.
Trường hợp anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì Ngân hàng B được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp của ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L theo Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/ HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 giữa ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L với B để thu hồi nợ; tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đất tại thửa đất số 401A, tờ bản đồ số 03 lập năm 1991 nay là thửa đất số 76, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính phường N lập năm 2012; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nay là phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM719781 cấp ngày 19/11/2008 cho ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L.
Trường hợp phát mại tài sản thế chấp không thu hồi đủ nợ thì anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 có trách nhiệm thanh toán hết số tiền còn lại cho Ngân hàng B cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.
Tòa án nhân dân khu vực 1- Ninh Bình đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh P, chị T1 không có văn bản kiến, không giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án và không có mặt tại Tòa theo giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án.
Tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L trình bày như sau:
Bản tự khai ngày 07/10/2024 ông Phạm Ngọc V trình bày: Tòa án thụ ký việc Ngân hàng khởi kiện ông Phạm Nam P là con ông có vay Ngân hàng bằng bìa đỏ của ông. Ông xác nhận bìa đỏ anh P vay Ngân hàng là bìa 270 m². Hiện nay ông đang ở là bìa của mẹ ông để lại là 540 m², ông khẳng định là không có bìa 270 m². Ông đề nghị Tòa án xác định lại việc anh P và Ngân hàng mượn bìa thế nào ông không được biết và không liên quan.
Biên bản làm việc ngày 06/11/2024 ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L trình bày: Ông V, bà L không thừa nhận hợp đồng thế chấp theo hồ sơ của Ngân hàng cung cấp. Ông bà không biết việc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông V và bà L. Ông bà đang sử dụng 540 m² có 1 nhà 2 tầng xây năm 2021, tài sản trên đất là của ông V, bà L trong đó có 1 ngôi nhà 2 tầng xây năm 2021 có cho vợ chồng cháu Phạm Mạnh L1, cháu Phạm Thị P1 ở nhờ, cháu P1 cháu L1 không có đóng góp gì; thửa đất ông bà đang ở là của mẹ ông là bà Phạm Thị N có diện tích 540 m². Ông bà không biết địa chỉ nơi cư trú, làm việc của của anh P, chị T1. Khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án ông V có gửi cho anh P. Bà L có gọi điện cho anh P, anh P có nhờ bà nói lại với Ngân hàng là cho anh P thời hạn đến khoảng 20 Tết năm nay anh P về làm việc với Ngân hàng về khoản nợ anh P vay Ngân hàng.
Tại Biên bản làm việc ngày 11/8/2025 ông Phạm Ngọc V xác định ông cho anh P mượn bìa đỏ còn không biết việc anh P thế chấp tài sản của ông cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử là đúng theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 30; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 (B): Buộc anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 thanh toán cho Ngân hàng B tổng số tiền tính đến ngày 29/9/2025 là: 478.566.005 đồng trong đó: Nợ gốc: 245.000.000 đồng, lãi trong hạn: 155.524.658 đồng, lãi quá hạn: 76.688.356 đồng, lãi chậm trả: 1.352.991 đồng.
- Kể từ ngày 30/9/2025, anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 còn phải thanh toán các khoản lãi và chi phí phát sinh đã thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Trường hợp anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 không trả hoặc trả không đủ nợ thì Ngân hàng B được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp của ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L theo Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 giữa ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L với B để thu hồi nợ, tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 401A, tờ bản đồ số 03; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nay là phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM719781 cấp ngày 19/11/2008 cho ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L.
- Chi phí tố tụng: Anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng B chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.800.000 đồng.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định là 23.142.640 đồng.
- Trả lại cho B số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 10.400.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000283 ngày 22/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Đ1 yêu cầu anh Phạm Nam P- chủ hộ kinh doanh cá thể N và vợ là chị Phạm Thị T1 trả tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên; anh P, chị T1 có địa chỉ cư trú tại phường N, tỉnh Ninh Bình. Do đó Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố khu vực 1- Ninh Bình theo quy định khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Quang Đ và ông Nguyễn Huy S, bị đơn là anh Phạm Nam P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị T1, ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025
[3] Về nội dung vụ án:
- Về hợp đồng tín dụng và nghĩa vụ trả nợ: Ngày 28/9/2018 Ngân hàng TMCP Đ1 cho anh P, chị T1 vay số tiền 245.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD (áp dụng đối với khoản vay theo món của khách hàng bán lẻ - giải ngân 1 lần và cùng ngày ký HĐTD). Về hình thức và nội dung Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Sau khi giao kết hợp đồng Ngân hàng TMCP Đ1 đã giải ngân cho anh P, chị T1 số tiền 245.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng anh P, chị T1 không thực hiện việc thanh toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Đ1. Vì vậy Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu anh Pham Nam P2 – chủ hộ kinh doanh cá thể Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 phải trả nợ gốc và lãi quá hạn phát sinh là có căn cứ.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phạm Nam P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị T1 vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Anh P, chị T1 cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ, không có có ý kiến chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như hợp đồng tín dụng, bảng tính lãi thì đến thời điểm ngày 29/9/2025 anh P và chị T1 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền nợ gốc, lãi phát sinh tính đến ngày 29/9/2025 là 478.566.005 đồng trong đó: Nợ gốc 245.000.000 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn 155.254.658 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn 76.688.356 đồng, lãi chậm trả 1.352.991 đồng.
- Do anh P, chị T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP Đ1 yêu cầu Tòa án buộc anh P, chị T1 phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Lãi suất được tiếp tục tính từ ngày 30/9/2025 cho đến khi anh P, chị T1 trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD ngày 28/09/2018.
- Về hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Tài sản đảm bảo khoản vay của anh P, chị T1 theo Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Phạm Ngọc V, bà Đỗ Thị L là quyền sử dụng đối với thửa đất số 401 a, tờ bản đồ số 3; địa chỉ thửa đất: phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình) có diện tích 274 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 719781 do UBND thành phố N cấp ngày 19/11/2008 cho ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L.
- Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông V và bà L không thừa nhận hợp đồng thế chấp theo hồ sơ của Ngân hàng cung cấp. Ông V xác định ông cho anh P mượn bìa đỏ còn không biết việc anh P thế chấp tài sản của ông cho Ngân hàng. Nhưng ông V, bà L không đề nghị giám định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng thế chấp và ông bà cũng không cung cấp mẫu chữ ký, chữ viết để Tòa án trưng cầu giám định. Tại biên bản làm việc (v/v: giải quyết nghĩa vụ bảo đảm của ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L cho khách hàng Phạm Nam P) ngày 06/01/2022 giữa Ngân hàng B và ông Vũ Ngọc V1, bà Đỗ Thị L thể hiện ý kiến của bên bảo đảm là ông V1, bà L như sau: Tôi là Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L, công nhận bìa đất mang tên tôi có ủy quyền cho con tôi là Phạm Nam P thế chấp vay ngân hàng trên. Nay tôi xác nhận là đúng. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C ngày 01/2/2016, số công chứng 3167, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD và đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/2/2016 tại Phòng Tài nguyên - Môi trường thành phố N theo đúng quy định pháp luật. Do đó có cơ sở xác định ông V và bà L hoàn toàn tự nguyện dùng các tài sản thuộc sở hữu của ông bà để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vay cho anh Phạm Nam P.
- Xét thấy Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 giữa Ngân hàng và ông Phạm Ngọc V, bà Đỗ Thị L đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm. Do đó tài sản thế chấp sẽ được xử lý khi bên vay không trả được nợ với nghĩa vụ đảm bảo được xác định tại khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng thế chấp.
- Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/12/2024 thể hiện kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản ông V, bà L thế chấp cho Ngân hàng TMCP Đ1 như sau:
- Về đất: Diện tích đất thế chấp thực tế ông V, bà L đang sử dụng là 268m² ( giảm 6m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai số giữa hai lần tính diện tích bằng thủ công và máy);
- Về tài sản gắn liền với đất: 01 nhà mái ngòi kiểu cũ được mô tả trong hợp đồng thế chấp; 01 nhà mái bằng 2 tầng, có diện tích 67,8 m² (trong đó diện tích nhà xây dựng trên đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 64,7 m² và diện tích nhà xây dựng ra ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3,1m²) là tài sản ông V, bà L xây năm 2021 là tài sản hình thành sau thế chấp.
Căn cứ thỏa thuận của các bên tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp ngày 01/02/2016 thì nhà mái bằng 2 tầng nêu trên thuộc tài sản bảo đảm theo hợp đồng này. Tuy nhiên do nhà mái bằng 2 tầng có diện tích xây dựng ra ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3,1m 2, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND phường N (nay là phường H), tỉnh Ninh Bình thì diện tích nhà xây ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3,1m 2 ông V, bà L sử dụng, trong quá trình sử dụng đất không có tranh chấp, khiếu nại về đất đai và có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do bên thế chấp sử dụng ổn định, không có tranh chấp quyền sử dụng 3,1 m 2 đất mà ông V, bà L xây 1 phần nhà bằng 2 tầng nên diện tích đất này cũng thuộc tài sản thế chấp cho Ngân hàng.
Ngoài ra trên đất thế chấp còn 01 góc nhà cấp 4 có diện tích 2,3 m² của nhà 2 mái cấp 4 lợp tôn thuộc quyền sở hữu của ông V, bà L (không có trong Hợp đồng thế chấp). Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có ý kiến: Phần nhà trên đất thế chấp nhỏ, không phát sinh tranh chấp từ thời điểm nhận thế chấp đến thời điểm xét xử. Quá trình nhận tài sản bảo đảm các bên đã công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Do vậy phát sinh quyền của ngân hàng T2 xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp xử lý tài sản thì Ngân hàng và bên thế chấp tự thỏa thuận về tài sản này, nếu phát sinh tranh chấp thì Ngân hàng khởi kiện vụ án khác.
Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 299, khoản 6 Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015 được Hội đồng xét xử chấp nhận. Thực tế hiện nay diện tích đất thế chấp là 268 m² và diện tích đất có xây nhà 2 tấng ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3,1m 2 cũng thuộc tài sản thế chấp do đó khi xử lý Thi hành án sẽ được thực hiện theo diện tích thực tế.
[3] Về chi phí tố tụng: Anh P, chị T1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 4.800.000 đồng. Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp đủ toàn bộ số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ nên anh P, chị chị T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 4.800.000 đồng
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau: Ngân hàng TMCP Đ1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.400.000 đồng. Anh P, chị T1 có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại trên số tiền 478.566.005 đồng phải trả là: 20.000.000 đồng + (4% x 78.566.005 đồng) = 23.142.640 đồng.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Ninh Bình tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; các Điều 280, khoản 1 Điều 299, khoản 6 Điều 320, Điều 463 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; các Điều 6, 7 và 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.
-
Buộc anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền nợ gốc, lãi phát sinh tính đến ngày 29/9/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD ký ngày 28/09/2018 là 478.566.005 đồng (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm linh năm đồng); trong đó: Nợ gốc 245.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng); lãi trên nợ gốc trong hạn 155.524.658 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng), lãi trên nợ gốc quá hạn 76.688.356 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng); lãi chậm trả: 1.352.991 đồng (một triệu ba trăm năm mươi hai nghìn chín trăm chín mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp Ngân hàng có điều chỉnh lãi cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 phải tiếp tục thanh toán cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Xử lý tài sản bảo đảm: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 153002/16/8261825/HĐBĐ ký ngày 01/02/2016 để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 401A, tờ bản đồ số 03 (nay là thửa số 76, tờ bản đồ số 12) và tài sản gắn liền với đất (bao gồm cả phần nhà xây dựng trên diện tích đất 3,1 m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nay là phố P, phường N, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM719781 cấp ngày 19/11/2008 cho ông Phạm Ngọc V và bà Đỗ Thị L (có sơ đồ kèm theo).
-
Buộc anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền nợ gốc, lãi phát sinh tính đến ngày 29/9/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 153435/18/8261825/HĐTD ký ngày 28/09/2018 là 478.566.005 đồng (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm linh năm đồng); trong đó: Nợ gốc 245.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng); lãi trên nợ gốc trong hạn 155.524.658 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng), lãi trên nợ gốc quá hạn 76.688.356 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng); lãi chậm trả: 1.352.991 đồng (một triệu ba trăm năm mươi hai nghìn chín trăm chín mươi mốt đồng).
- Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Nam P, chị Phạm Thị T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
-
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.400.000 đồng (mười triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000283 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ( từ ngày 01/7/2025 là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Ninh Bình).
- Anh Phạm Nam P và chị Phạm Thị T1 phải nộp 23.142.640 đồng (hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm bốn mươi đồng ) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 08/2025/KDTM-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V và anh Phạm Nam P - Chủ hộ kinh doanh Phạm Nam P
