Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST-CTN

Ngày 29 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Toàn.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Lợi.
  2. Ông Phạm Trung Hiếu.
  3. Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS-CTN ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS-CTN ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Phàn Khái P, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1998 tại xã M, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn S, xã M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 010098009495, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1; con ông Phàn Khái P1 và bà Lý Thị Q; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: tốt; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/8/2025 và bị tạm giam từ ngày 02/9/2025 – Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phàn Khái P:

  • Ông Tạ Ngọc V – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Vắng mặt.
  • Ông Trần Ngọc H – Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.

- Bị hại:

  • Chị Lùng Thị B, sinh ngày 28/11/2000. Nơi cư trú: Thôn L, xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  • Chị Lừu Thị H1, sinh ngày 15/10/2001. Nơi cư trú: Thôn L, xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  • Chị Lùng Thị V1, sinh ngày 28/11/2001. Nơi cư trú: Thôn L, xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phàn Khái P1, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Thôn S, xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • Anh Thền Chẩn T, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  • Anh Lồ Ngọc D, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  • Anh Lùng Văn V2, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn L, xã M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 11/2014, Lồ Ngọc D và Phàn Khái P đi sang Trung Quốc làm thuê thì gặp Sùng S và một người đàn ông tên T1 ở H, Trung Quốc. Qua nói chuyện, D hỏi T1 có việc gì làm không, T1 nói muốn kiếm được nhiều tiền thì về Việt Nam tìm phụ nữ lừa đưa sang Trung Quốc bán cho T1, nếu phụ nữ xinh thì bán được 1.900 CNY, phụ nữ xấu thì bán được 1.500 CNY, đồng thời T1 bảo D cách lừa phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán là làm quen rồi rủ đi chơi, sau đó nói có bạn bị ngã xe hoặc bị đánh rồi lừa đưa sang Trung Quốc bán. D đồng ý rồi xin số điện thoại của T1 và S để liên lạc, sau đó D rủ P cùng tham gia, P đồng ý. Sáng hôm sau P nói với D muốn tìm phụ nữ phải có tiền chi phí, nên D đi gặp T1 và S bảo cho ứng tiền để về Việt Nam tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán. T1 đồng ý và lấy 1.000 CNY ra đưa cho D và bảo S cùng tham gia với D để lừa phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán, nếu thành công thì T1 sẽ trừ cho S 600 CNY vay của T1 trước đó, S đồng ý, D cầm số tiền trên và một mình tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngày 29/11/2014, D gặp Thền Q, D nói có quen S và Trảnh người Trung Quốc muốn mua phụ nữ Việt Nam để bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ, nếu bán được tiền thì cùng chia nhau, T đồng ý tham gia cùng. Sau đó cả hai đi gặp P, D nói với P cho T cùng tham gia việc tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán, P đồng ý. Sau đó D bảo T và Phù đi xuống thôn N, xã B, huyện M để D chỉ đường đi sang Trung Quốc, cả ba đi xe máy xuống thôn N,

xã B, huyện M xem đường xuống, D bảo T đi xe máy về trước còn P chờ D ra thành phố L để D đi sang Trung Quốc làm thuê.

Ngày 02/12/2014, T đi đến phòng trọ của Cô Ngân C (là bạn học cùng trường với T ở trường THPT số 1 huyện M) chơi thì thấy Lùng Thị B1 (sinh ngày 28/01/2000) đang gọi điện cho C hỏi xin số điện thoại của T. C nói T đang ở đây, sau đó đưa điện thoại cho T nghe, Trường nghe xong rồi xin số điện thoại của B1 để liên lạc. Đến ngày 04/12/2014, T đang ở phòng trọ thì thấy D gọi điện từ bên Trung Quốc về hỏi đã tìm được người chưa, T nói tìm được rồi nhà ở thôn L, xã T, huyện M. Thấy vậy, D nói nhanh chóng lừa đưa sang Trung Quốc bán, sau đó D đi gặp T1 và S thông báo đã tìm được phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán rồi và bảo T1 cho ứng thêm tiền, T1 đồng ý rồi đưa 1.000 CNY cho D, sau đó D cầm số tiền trên về Việt Nam đổi ra được 3.400.000 đồng rồi gọi điện cho T và P nói đi ra khu vực cửa khẩu thành phố L gặp D để nói chuyện. Khoảng 18 giờ ngày 04/12/2014, T và P đi xe máy ra khu vực cửa khẩu thì gặp D, D nói đã ứng tiền trước của T1 bên Trung Quốc được 1.000 CNY và đổi được 3.400.000 đồng. Sau đó cả ba cùng đi ăn uống và thuê phòng nghỉ. Đến sáng ngày 05/12/2014, D, P và T đi xe về thị trấn M (Nay là xã M, tỉnh Lào Cai). Trên đường đi, T nhắn tin rủ B1 đi chơi, B1 đồng ý nên T hỏi B1 có mấy người đi, B1 nói có ba người. Khoảng 18 giờ cùng ngày T, D và P mời người đi một xe mô tô đến thôn L, xã T phố để đón B1. Tại đây B1 rủ thêm Lùng Thị V1 (sinh ngày 12/01/2001) và Lừu Thị H1 (sinh ngày 12/10/2001) đi cùng, sau đó cả sáu người cùng đi xe mô tô xuống thị trấn M rồi đi vào một quán karaoke hát. Trong khi đang hát thì D và T đi ra ngoài, D gọi điện cho S thông báo đã lừa được 03 phụ nữ đang chuẩn bị đưa sang Trung Quốc bán và bảo S ra đón. Sau khi quay lại phòng hát, D nói với B1, V1 và H1 là bạn đang bị đánh ở dưới xã B, huyện M (Nay là xã B, tỉnh Lào Cai) và rủ B1, V1 và H1 đi cùng xuống xem thế nào, B1, V1 và H1 đồng ý. Sau đó, T chở H1, P chở B1 và D chở V1 đi đến thôn N, xã B. Trên đường đi, D gọi điện cho S bảo T1 ra khu vực biên giới đón điện thôn N, xã B để đón. Khi đến bờ suối thuộc thôn N, xã B, huyện M (N là xã B, tỉnh Lào Cai), cả ba giấu xe mô tô ở ven đường rồi đưa B1, V1 và H1 lội suối sang phía Trung Quốc thì gặp S, T1 và 02 người đàn ông Trung Quốc đi ba chiếc xe mô tô đến. Tại đây D bảo B1, V1 và H1 lên xe máy của 02 người đàn ông Trung Quốc đi trước còn D, T, P, S và T1 đi sau. Sau khi 02 người đàn ông trung Q1 đưa B1, H1 và V1 đi được một đoạn thì D bảo S và T1 thanh toán tiền, T1 đưa cho D 1.000 CNY và nói khi nào bán được 03 phụ nữ trên thì trả nốt số tiền còn lại, D cầm số tiền trên cùng T và Phù đi về Việt Nam đổi được 3.400.000 đồng rồi thuê phòng nghỉ và ăn uống tiêu xài hết. Sáng hôm sau T1 gọi điện cho D nói bán B1 được 10.000 CNY, còn V1 và H1 mỗi người bán được 5.000 CNY. Một lúc sau T1 gọi điện lại cho D nói 02 người đàn ông Trung Quốc mua B1, V1 và H1 đã bị Công an T2 bắt. Sau khi bị bán sang Trung Quốc đến ngày

08/12/2014, Lùng Thị B, Lùng Thị V1 và Lừu Thị H1 được Công an T2 giải cứu và trao trả về Việt Nam. Ngày 10/12/2014, D và T bị Công an huyện M bắt giữ, ngày 14/12/2014 Sin về Việt Nam và đến Công an đầu thú. Đối với Phàn Khái P sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã bỏ trốn, ngày 01/06/2015 Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã, đến ngày 30/8/2025, Phàn Khái P đã đến Cơ quan Công an tỉnh L đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Bản cáo trạng số 52/CT-VKS-P2 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đã truy tố Phàn Khái P về tội “Mua bán trẻ em” theo điểm d, e khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Phàn Khái P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phàn Khái P phạm tội "Mua bán trẻ em". Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 120; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20, 53; Điều 33; Điều 69, 71, 74 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Phàn Khái P mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng, án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Phàn Khái P trình bày quan điểm bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, e, khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phàn Khái P mức án dưới mức mà Kiểm sát viên đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phàn Khái P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 05/12/2014, bị cáo Phàn Khái P cùng Lồ Ngọc D, Thền Chẩn T, Sùng S đã lừa và đưa Lùng Thị B, Lùng Thị V1, Lừu Thị H1 sang Trung Quốc bán. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi bị hại Lừu Thị H1 mới 13 tuổi 01 tháng 10 ngày, Lùng Thị V1 mới 13 tuổi 09 tháng 07 ngày và Lùng Thị B mới 14 tuổi 07 ngày. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trẻ em” với các tình tiết định khung “Đối với nhiều trẻ em” và “Để đưa ra nước ngoài”. Theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

[3]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Phàn Khái P là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội và tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Lồ Ngọc D là người khởi xướng và cùng Thền Chẩn T, Sùng S và Phàn Khái P trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo Phàn Khái P sau khi được rủ rê đã đồng ý tham gia và thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu trong vụ án. Lồ Ngọc D, S, và Thền Chẩn T đã bị xét xử tại bản án số 22/2015/HS-ST ngày 20/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai và bản án phúc thẩm số 34/2016/HS-PT ngày 28/01/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trước khi phạm tội, bị cáo Phàn Khái P không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự giác ra đầu thú. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới được 16 tuổi 10 tháng 09 ngày. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại; các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 69, 71, 74 về những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 để xem xét một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ được chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Lùng Thị B, Lừu Thị H1 và Lùng Thị V1 mỗi bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 7.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền trên các bị hại đều không yêu cầu đề nghị gì về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phàn Khái P phạm tội “Mua bán trẻ em”.

Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 120; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20, 53; Điều 33; Điều 69; khoản 4 Điều 71; khoản 1 Điều 74 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Phàn Khái P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/8/2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phàn Khái P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TAND tối cao;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Lào Cai;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Lào Cai;
  • - PV 06 CA tỉnh Lào Cai
  • - Trại tạm giam số 1 CA tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - THA Tòa án;
  • - THADS tỉnh Lào Cai;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST-CTN ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về mua bán trẻ em

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trẻ em
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phàn Khái P bị VKS nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố về tội “Mua bán trẻ em” theo điểm d, e khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger