TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 07/2025/KDTM-ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Ninh và bà Phạm Thị Mơ.
- Thư ký phiên toà:
Bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2025/TLST-KDTM ngày 17 tháng 4 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/0025/QĐĐST-KDTM ngày 29/10/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Công ty Cổ phần M (viết tắt Công ty M); địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường C, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 - Chức vụ: Trưởng phòng Xử lý nợ Miền Bắc; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Huy H - Trưởng bộ phận xử lý nợ, ông Nguyễn Văn S và ông Đỗ Quốc T2 - Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ (Văn bản uỷ quyền ngày 06/4/2025); có mặt ông S; vắng mặt ông H, ông T2.
1.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (viết tắt Ngân hàng V1); địa chỉ: Số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý, ông Phạm Tuấn A và ông Đỗ Thành T3 - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Tất T4 - Chức vụ: cán bộ Xử lý nợ; ông T4 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1973;
2.2. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1974;
Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình.
(Bà Nguyễn Thị T5 ủy quyền cho ông Nguyễn Đình Q tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2024 và trong quá trình xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Công ty M trình bày:
Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202165209348 và Khế ước nhận nợ lần 1 giữa Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Đình Q cùng bà Nguyễn Thị T5 ký ngày 22/02/2022; Khế ước nhận nợ lần 2 ngày 21/02/2023, Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 vay tổng số tiền 3.200.000.000 đồng; mục đích: Bổ sung vốn buôn bán; thời hạn trả nợ tiền gốc, lãi và lãi suất tiền vay được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký.
Thời hạn vay: 12 tháng, tính từ ngày V1 giải ngân vốn vay. Mục đích sử dụng vốn bổ sung vốn kinh doanh buôn bán lợn thịt. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định”). Hết Thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân ký hạn 12 tháng của bên Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.7%/năm.
Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Bên vay có nghĩa vụ thanh toán cho bên Ngân hàng các khoản phí trả nợ trước hạn được quy định tại (các) Khế ước nhận nợ; và các khoản phí khác theo thỏa thuận cụ thể giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
Để đảm bảo cho khoản tiền vay trên, ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 đã thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 146, tờ bản đồ số PL9; địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 841040 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5. Hợp đồng số công chứng 1555, quyển số 01-2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 21/02/2022, tại Văn phòng C, địa chỉ: Số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên, thời gian đầu phía bị đơn đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Ngân hàng V1 về việc thanh toán tiền lãi theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng. Do có nhu cầu sử dụng vốn để thực hiện việc buôn bán nên các bên tiếp tục gia hạn hợp đồng tín dụng trên nên ngày 21/2/3023, Q, bà T5 đã tiếp tục ký kết khế ước nhận nợ lần 2 đối với Ngân hàng V1.
Sau khi được giải ngân ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 đã trả được V1 số tiền 158.892.639 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 15/11/2023, ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng và thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ cũng tính từ đó.
Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng các bên thỏa thuận, nên toàn bộ khoản nợ đã được Ngân hàng V1 chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký. Ngày 15/11/2023. Đến ngày 31/05/2024, Ngân hàng V1 đã bán 90% khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số LN2202165209348, Khế ước nhận nợ ký ngày 22/02/2023, giữa Ngân hàng V1 với ông Nguyễn Đình Q, bà Nguyễn Thị T5 cho Công ty M. Đến ngày 30/11/2024, Ngân hàng V1 tiếp tục bán 90% khoản nợ còn lại thuộc quyền đòi nợ của V1 cho Công ty M. Như vậy, sau khi Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M thực hiện việc mua bán nợ thì Công ty M có 99% của khoản nợ gốc tương đương với 3.168.000.000 đồng, Ngân hàng V1 có 1% của khoản nợ gốc tương đương với 32.000.000 đồng.
- Tính đến ngày 12/10/2024 (Theo số liệu tính trong đơn khởi kiện) ông Nguyễn Đình Q, bà Nguyễn Thị T5 còn nợ Công ty M và Ngân hàng V1 số tiền là: 3,932,683,570 (trong đó, nợ gốc: 3,200,000,000 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả: 732,683,570 đồng).
Công ty M và Ngân hàng V1 đã phối hợp, nhiều lần yêu cầu ông Q, bà T5 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nhưng ông Q, bà T5 không trả.
Nay, Công ty M yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải thanh toán cho Công ty M tổng số tiền tạm tính theo số liệu ghi trong đơn khởi kiện tính đến ngày 12/10/2024 (Thời điểm Công ty M mua 90% khoản nợ của ông Q bà T5) là: 3,539,415,213 (trong đó, nợ gốc: 2,880,000,000 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả: 659,415,213 đồng);
- Sau khi mua tiếp 90% khoản nợ của ông Q, bà T5 còn lại ( ngày 30/11/2024), tính đến ngày xét xử 27 tháng 11 năm 2025, Công ty M yêu cầu ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải trả Công ty M toàn bộ số tiền gốc: 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.669.306 đồng.
Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty M và V1. Lãi phát sinh phải trả cho Công ty M và Ngân hàng V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 không trả nợ đầy đủ cho Công ty M và V1 thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty M và/hoặc V1, cụ thể như sau:
Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số PL9 tại địa chỉ: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số DD 841040, Số vào số cấp GCN: CS06007 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022. Chi tiết hợp đồng số công chứng 1555, quyển số 01-2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 21/02/2022, tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty M và V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M và/ hoặc V1 cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.
Ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải chịu án phí và các chi phí tố tụng liên quan (nếu có).
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản ông Q, bà T5 thế chấp để bảo đảm các khoản tiền vay trên, Công ty M hoàn toàn nhất trí. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Công ty M đã nộp tạm ứng và đã thanh toán xong với Tòa án. Nay, Công ty M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Công ty M yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2024 và trong quá trình xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Ngân hàng V1 trình bày:
Về nội dung vụ việc, nội dung Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1) đối với ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 cũng như các vấn đề khác Ngân hàng V1 hoàn toàn nhất trí các nội dung do người đại diện hợp pháp của đồng nguyên đơn - Công ty M đã trình bày về với Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202165209348 và Khế ước nhận nợ lần 1 ký ngày các bên ký ngày 22/02/2022 và Khế ước nhận nợ lần 2 ký ngày 21/2/2023. Số tiền ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 đã vay của Ngân hàng V1 và các tài sản ông Q, bà T5 đã thế chấp để đảm bảo khoản tiền vay. Đến ngày 31/05/2024, Ngân hàng V1 đã bán 90% khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức và Khế ước nhận nợ ký ngày 21/02/2023 giữa Ngân hàng V1 với ông Q, bà T5 cho Công ty cổ phần M. Đến ngày 30/11/2024, Ngân hàng V1 tiếp tục bán 90% khoản nợ còn lại thuộc quyền đòi nợ của Ngân hàng V1 cho Công ty M. Tính đến ngày 12/10/2024 ông Nguyễn Đình Q, bà Nguyễn Thị T5 còn nợ Ngân hàng V1 là: 393,268,357 (trong đó, nợ gốc: 320,000,000 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả: 73,268,357 đồng). Nay, Ngân hàng V1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đình Q, bà Nguyễn Thị T5 phải trả cho Ngân hàng V1 toàn bộ số tiền trên và tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo đúng hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay mà ông Q, bà T5 đã ký cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng V1. Trường hợp ông Q, bà T5 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ trên. Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông ông Q, bà T5 để thu hồi nợ.
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản ông Q, bà T5 thế chấp để bảo đảm các khoản tiền vay trên, Ngân hàng V1 hoàn toàn nhất trí. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Ngân hàng V1 và Công ty M đã nộp tạm ứng và đã thanh toán xong với Tòa án. Nay, Ngân hàng TMCP V1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản tự khai đề ngày 20/5/2025 và trong quá trình xét xử, bị đơn - ông Nguyễn Đình Q trình bày:
Nội dung vụ án người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng V1 đã trình bày ông Q xác định là đúng và nhất trí. Tháng 2 năm 2022, do có nhu cầu vay vốn để làm ăn, phát triển kinh tế gia đình nên ông Q và bà T5 có vay vốn của Ngân hàng V1 cụ thể: Theo hợp đồng LN2202165209348 ngày 22/02/2022, ông bà có vay của Ngân hàng V1 số tiền gốc là 3.200.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm triệu đồng). Để đảm bảo khoản vay trên ông bà có thế chấp 01 thửa đất số 146, tờ bản đồ PL9; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (nay là thôn A, xã L, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số DD 841040 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho Ngân hàng. Trong thời gian vay tiền của Ngân hàng, thời gian đầu ông bà vẫn nộp lãi đầy đủ cho Ngân hàng.
Sau khi ký Khế ước nhận nợ lần 2 ngày 21/02/2023 để tiếp tục vay vốn ngân hàng, do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên không có điều kiện trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Nay, Công ty M và Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải thanh toán số tiền 3,932,683,570 (trong đó, Nợ gốc: 3,200,000,000 đồng, Nợ lãi và L1 chậm trả: 732,683,570 đồng). Ông Q có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn như sau: Do hiện nay, ông bà đang gặp nhiều khó khăn, công việc làm ăn cũng khó khăn không có nguồn thu vì vậy ông bà chưa có khả năng thanh toán hết cho Ngân hàng. Đề nghị Ngân hàng V1 tạo điều kiện miễn toàn bộ tiền lãi. Đối với phần gốc ông bà xin được trả dần mỗi tháng 50.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản ông bà thế chấp để bảo đảm các khoản tiền vay tại Ngân hàng V1, ông hoàn toàn nhất trí. Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ). Các nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông hoàn toàn nhất trí. Về án phí: Ông đồng ý Tòa án giải quyết theo pháp luật.
* Tại Bản tự khai đề ngày 20/5/2025 và trong quá trình xét xử, bị đơn - bà Nguyễn Thị T5 trình bày:
Tháng 2 năm 2022, do có nhu cầu vay vốn để làm ăn, phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng bà có vay vốn của Ngân hàng V1 cụ thể: Theo Hợp đồng LN2202165209348 ngày 22/02/2022 và Khế ước nhận nợ ngày 21/2/2023, vợ chồng bà có vay của Ngân hàng V1 số tiền gốc là 3.200.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm triệu đồng). Để đảm bảo khoản vay trên vợ chồng bà có thế chấp 01 thửa đất số 146, tờ bản đồ PL9; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (nay là thôn A, xã L, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số DD 841040 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho Ngân hàng. Trong thời gian vay tiền của Ngân hàng, thời gian đầu ông bà vẫn nộp lãi đầy đủ cho Ngân hàng. Do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên ông bà không có điều kiện trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Nay, Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải thanh toán số tiền số tiền 3,932,683,570 (trong đó, nợ gốc: 3,200,000,000 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả: 732,683,570 đồng). Bà T5 có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn như sau: Do hiện nay, gia đình bà đang gặp nhiều khó khăn, công việc làm ăn cũng khó khăn không có nguồn thu vì vậy ông bà chưa có khả năng thanh toán hết cho Ngân hàng. Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện miễn toàn bộ tiền lãi. Đối với phần gốc ông bà xin được trả dân mỗi tháng 50.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Do điều kiện công việc, bà không thể tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án được. Nên bà ủy quyền cho ông Nguyễn Đình Q thay bà tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/9/2025, xác định:
Thửa đất số 146, tờ bản đồ số PL9, diện tích 531m² (trong đó: Đất ở tại nông thôn sử dụng lâu dài là 458m², đất trồng cây lâu năm 73m²), địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 841040 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 là người đang được quyền sử dụng và trên đất. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà mái bằng 2 tầng (nhà chính), kết cấu bê tông cốt thép, xây dựng năm 2004, diện tích 2 sàn 140m², chiều cao 8m, cầu thang, khu phụ khép kín. 01 nhà cấp 4 diện tích 27m², kết cấu tường gạch, mái tôn, chiều cao 4m. Nhà mái bằng B1 (bếp) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 12m² (có 2m² xây trên đất UB). Nhà mái bằng B1 (khu vệ sinh) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 09m² (xây trên đất UB). Lán tôn kết cấu cột kèo khung thép, cao 4m, diện tích 177m² (trên đất UB là 53m²). Sân gạch đỏ diện tích 238m²).
* Quá trình hoà giải ngày 18/9/2025:
Theo tài liệu Công ty M cung cấp tại thời điểm tiến hành hoà giải và Đơn trình bày ngày 28/10/2025, về việc việc định chính số liệu của ông Nguyễn Văn S - Đại diện theo ủy quyền của Công ty M xác định: Ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 còn nợ Ngân hàng V1 và Công ty M tổng số tiền: 4.377.130.144 đồng (Trong đó nợ gốc: 3.200.000.000 đồng; nợ lãi 1.149.056.717 đồng; nợ lãi chậm trả lãi 28.064.397 đồng.
- Tính đến ngày xét xử 27 tháng 11 năm 2025, nguyên đơn xác định: Ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 còn nợ Công ty M toàn bộ số tiền gốc: 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.669.306 đồng. Ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 còn nợ Ngân hàng V1 số tiền: nợ gốc là 32.000.000 đồng; nợ lãi 12.503.260 đồng; nợ lãi chậm trả lãi 309.791 đồng.
* Tại phiên tòa:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Công ty M giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên; Ngân hàng V1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị giải quyết vụ án như quan điểm, yêu cầu đã trình bày tại bản trình bày ý kiến.
- Bị đơn ông Nguyễn Đình Q giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 30, 35, 39, 68, 144, 147, 157, 158, 227, 228 BLTTDS; Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của HĐTP TANDTC, Điều 117, 119, 274, 275, 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 357, 463, 466, 468 BLDS; Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty M và Ngân hàng V1. Buộc ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải trả cho Công ty M và Ngân hàng V1 số tiền tính đến ngày 27/11/2025, cụ thể như sau:
- - Trả nợ cho Công ty M số tiền: Tiền gốc 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả: 30.669.306 đồng.
- - Trả cho Ngân hàng V1 số tiền: Nợ gốc là 32.000.000 đồng; nợ lãi 12.503.260 đồng; nợ lãi chậm trả 309.791 đồng.
Ông Q, bà T5 phải chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (28/11/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202165209348 ngày 22/02/2022, khế ước nhận nợ lần 2 ký ngày 21/02/2023 và các văn bản tín dụng của khoản vay mà ông Q, bà T5 đã ký cho đến khi trả hết nợ cho Công ty M và Ngân hàng V1. Lãi phát sinh phải trả cho Công ty M và Ngân hàng V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Q, bà T5 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo kết quả thẩm định tại chỗ để thu hồi nợ là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 146, tờ bản đồ PL9, địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 841040 ngày 24/01/2022.
Bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Q bà T5 để thu hồi nợ”.
Về chi phí tố tụng, án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện của Công ty M và Ngân hàng V1 có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 hiện cư trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình; Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm (C) nay là Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Ngân hàng V1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Xem xét tính hợp pháp của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202165209348, và Khế ước nhận nợ lần 1 các bên ký ngày 22/02/2022 và Khế ước nhận nợ lần 2 ngày 21/2/2023; văn bản tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng V1 với ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 và Hợp đồng mua, bán nợ số 06/2024/VPB-MARS ngày 31/5/2024, giữa Ngân hàng V1 và Công ty M, Hợp đồng mua, bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 thấy rằng: Khi giao kết hợp đồng, các bên đều tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng phù hợp với nhu cầu của mỗi bên, phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118 và 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên các Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa Ngân hàng V1 với ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 và Hợp đồng mua, bán nợ số 06/2024/VPB-MARS ngày 31/5/2024, Hợp đồng mua, bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 giữa Ngân hàng V1 và Công ty M đều hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng và theo khế ước nhận nợ: Ngày 21/02/2023, Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 vay số tiền là 3.200.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh buôn bán lợn thịt. Sau đó, ông Q, bà T5 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 tiền nợ gốc, tiền lãi như các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng và Khế ước nhận nợ.
Sau khi được giải ngân ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 đã trả được V1 số tiền 158.892.639 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 15/11/2023, ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng.
Như vậy, ông Q, bà T5 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, tiền lãi các bên đã ký kết trong hợp đồng. Ngày 15/02/2023, Ngân hàng V1 chuyển toàn bộ khoản nợ của ông Q, bà T5 sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký. Đến ngày 31/05/2024, Ngân hàng V1 đã bán 90% khoản nợ phát sinh theo và Khế ước nhận nợ, giữa Ngân hàng V1 với ông Q, bà T5 cho Công ty M (Theo Hợp đồng mua, bán nợ số 06/2024/VPB-MARS ngày 31/5/2024 và Hợp đồng mua, bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024), còn 1% khoản nợ trên Ngân hàng V1 giữ lại không bán.
Việc Công ty M và Ngân hàng V1 cùng khởi kiện yêu cầu ông Q, bà T5 trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (27/11/2025) cụ thể: Trả nợ cho Công ty Cổ phần M gốc: 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.669.306 đồng; trả cho Ngân hàng V1 số tiền: nợ gốc là 32.000.000 đồng; nợ lãi 12.503.260 đồng; nợ lãi chậm trả lãi 309.791 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (28/11/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức, Kế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng mà các bên đã ký cho đến khi ông Q, bà T5 thanh toán xong khoản nợ. Nếu ông Q, bà T5 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xem xét Hợp đồng thế chấp số 65209348, số công chứng 1555, quyển số 01-2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2022 ký tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 và Ngân hàng V1 thực hiện việc ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không có sự lừa dối, Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T. Do đó, các hợp đồng nêu trên đều có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty M và Ngân hàng V1 trong trường hợp ông Q, bà T5 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản tiền đã vay nêu trên, thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ đối với Thửa đất số 146 tờ bản đồ số PL9; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T (cũ) nay là xã L, tỉnh Ninh Bình có sự tham gia của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng V1, Công ty M và bị đơn bà Nguyễn Thị T5 cùng chính quyền địa phương; vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đình Q. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm các đương sự đều ghi nhận kết quả xem xét thẩm định và nhất trí, không có ý kiến, khiếu nại gì.
* Kết quả xem xét, thẩm định, gồm:
Thửa đất số 146, tờ bản đồ số PL9, diện tích 531m² (trong đó: Đất ở tại nông thôn sử dụng lâu dài là 458m², đất trồng cây lâu năm 73m²), địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 841040 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5. Hiện tại ông Q, bà T5 là người đang quản lý, sử dụng trực tiếp tài sản, nhà đất trên. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà mái bằng 2 tầng (nhà chính), kết cấu bê tông cốt thép, xây dựng năm 2004, diện tích 2 sàn 140m², chiều cao 8m, cầu thang, khu phụ khép kín. 01 nhà cấp 4 diện tích 27m², kết cấu tường gạch, mái tôn, chiều cao 4m. Nhà mái bằng B1 (bếp) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 12m² (có 2m² xây trên đất UB). Nhà mái bằng B1 (khu vệ sinh) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 09m² (xây trên đất UB). Lán tôn kết cấu cột kèo khung thép, cao 4m, diện tích 177m² (trên đất UB là 53m²). Sân gạch đỏ diện tích 238m²).
[3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ:
Xét Hợp đồng thế chấp số 65209348, số công chứng 1555, quyển số 01-2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2022, ông Q, bà T5 ký kết với Ngân hàng V1 là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc. Các bên không có phản đối hay có ý kiến gì sau khi ký kết hợp đồng; các điều khoản trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ ngày ký kết, đăng ký giao dịch bảo đảm. Các bên thỏa thuận Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của bên vay. Nay, ông Q, bà T5 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Công ty M và Ngân hàng V1 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng pháp luật. Yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với Điều 299 Bộ luật Dân sự, quy định về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp được Tòa án chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng V1 về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Q, bà T5 để thu hồi nợ”. Xét thấy, những yêu cầu này của nguyên đơn không có cơ sở giải quyết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Quá trình giải quyết vụ án, Công ty M và Ngân hàng V1 đã nộp tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thanh toán xong với Tòa án. Nay, Công ty M và Ngân hàng V1 không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Công ty M và Ngân hàng V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là Thi hành án dân sự, tỉnh Ninh Bình.
[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn - Ngân hàng V1 và bị đơn bà Nguyễn Thị T5 vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, và có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40, 95, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 117, 119, 292, 293, 295, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 357, 385, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 99, 100 và 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 166, 167, 168, 170, 179 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ các điều 27, 29, 33, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 306 Luật Thương mại 2005; Điều 35, 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 Nghị định quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Điều 4, Điều 48 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Điều 5, 6 và Điều 8 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm pháp Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty M và Ngân hàng V1 đối với ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5.
2. Buộc ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải trả cho đồng nguyên đơn là Công ty M và Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 27/11/2025 là: 4.481.305.088 đồng. (Trong đó số tiền gốc: 3.200.000.000 đồng; nợ lãi: 1.250.325.991 đồng; lãi chậm trả: 30.979.097 đồng).
Cụ thể:
- - Trả nợ cho Công ty M số tiền nợ gốc là: 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.669.306 đồng.
- - Trả cho Ngân hàng V1 số tiền: nợ gốc là: 32.000.000 đồng; nợ lãi 12.503.260 đồng; nợ lãi chậm trả lãi 309.791 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/11/2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại và Khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng mà ông Q, bà T5 đã ký với Ngân hàng V1. Khi ông Q, bà T5 thanh toán xong khoản nợ cho Công ty M và Ngân hàng V1 thì Công ty M và Ngân hàng V1 phải trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 số DD 841040 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5.
Trong trường hợp ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ cho Công ty M và Ngân hàng V1 thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Công ty M và Ngân hàng V1; nếu còn dư thì trả lại cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5. Khi kê biên, phát mại tài sản thì chủ tài sản và những người đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp phải bàn giao tài sản đảm bảo cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Tài sản thế chấp theo kết quả thẩm định thực tế, gồm có:
Thửa đất số 146, tờ bản đồ số PL9, diện tích 531m² (trong đó: Đất ở tại nông thôn sử dụng lâu dài là 458m², đất trồng cây lâu năm 73m²), địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (cũ) nay là thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 841040 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 24/01/2022 cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5. Hiện tại ông Q, bà T5 là người đang quản lý, sử dụng trực tiếp tài sản, nhà đất trên tài sản trên đất, gồm: 01 nhà mái bằng 2 tầng (nhà chính), kết cấu bê tông cốt thép, xây dựng năm 2004, diện tích 2 sàn 140m², chiều cao 8m, cầu thang, khu phụ khép kín. 01 nhà cấp 4 diện tích 27m², kết cấu tường gạch, mái tôn, chiều cao 4m. Nhà mái bằng B1 (bếp) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 12m² (có 2m² xây trên đất UB). Nhà mái bằng B1 (khu vệ sinh) kết cấu bê tông cốt thép, có chiều cao 2,6m, diện tích 09m² (xây trên đất UB). Lán tôn kết cấu cột kèo khung thép, cao 4m, diện tích 177m² (trên đất UB là 53m²). Sân gạch đỏ diện tích 238m²). Theo Hợp đồng thế chấp số 052093484977316, số công chứng 1555, quyển số 01-2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2022 ký tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng V1 về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Q, bà T5 để thu hồi nợ”.
4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Ông Nguyễn Đình Q, bà Nguyễn Thị T5 phải nộp 112.481.305 đồng, làm tròn thành 112.480.000 đồng (Một trăm mười hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Trả lại Công ty M và Ngân hàng V1 số tiền tạm ứng án phí (Đại diện Công ty Cổ phần M) đã nộp là 55.327.000 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001332 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền chi phí tố tụng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Công ty M, ông Nguyễn Đình Q có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn Ngân hàng V1 và bị đơn bà Nguyễn Thị T5 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Ninh Bình;
- - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình;
- - THADS tỉnh Ninh Bình;
- - Các đương sự;
- - Cổng thông tin điện tử của Tòa án;
- - Lưu HCTP; hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vũ Văn Thanh
Bản án số 07/2025/KDTM-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Số bản án: 07/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202165209348 và Khế ước nhận nợ lần 1 giữa Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Đình Q cùng bà Nguyễn Thị T5 ký ngày 22/02/2022; Khế ước nhận nợ lần 2 ngày 21/02/2023, Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 vay tổng số tiền 3.200.000.000 đồng; mục đích: Bổ sung vốn buôn bán; thời hạn trả nợ tiền gốc, lãi và lãi suất tiền vay được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký. Buộc ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thị T5 phải trả cho Công ty M và Ngân hàng V1 số tiền tính đến ngày 27/11/2025, cụ thể như sau: - Trả nợ cho Công ty M số tiền: Tiền gốc 3.168.000.000 đồng; nợ lãi: 1.237.822.731 đồng; lãi chậm trả: 30.669.306 đồng. - Trả cho Ngân hàng V1 số tiền: Nợ gốc là 32.000.000 đồng; nợ lãi 12.503.260 đồng; nợ lãi chậm trả 309.791 đồng.
