Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11 tháng 12 năm 2025

V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ và ông Cầm Văn Tổ

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp xác định cha cho con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị P, sinh ngày 20/9/1996. Căn cước công dân số 000000 do Cục cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội cấp ngày 09/05/2021. Địa chỉ: Bản N, phường C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lò Văn Q, sinh ngày 28/01/1989. Căn cước công dân số 0000000. Địa chỉ: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Quàng Văn H, sinh ngày 23/6/1989. Căn cước công dân số 00000000 do Cục cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội cấp ngày 07/4/2021. Địa chỉ: Bản N, phường C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Hoàng Thị Phương trình B như sau:

Ngày 25/12/2024, chị và anh Lò Văn Q ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 38/2024/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trong thời gian hôn nhân, chị và

2

anh Q có 03 con chung là cháu Lò Thị Thanh T, sinh ngày 28/5/2016, cháu Lò Bảo D, sinh ngày 13/3/2014 và cháu Lò Mạnh Đ, sinh ngày 08/7/2020.

Sau khi ly hôn, chị kết hôn với anh Quàng Văn H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 15/04/2025 tại UBND xã H, thành phố S. Chị và anh H có 01 con chung là cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1. Khi đi khai sinh cho cháu Q1 Tuấn A thì bị từ chối với lý do cháu Tuấn A sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ thời điểm kết thúc cuộc hôn nhân trước đó. Việc này làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cháu Tuấn A. Chị nhiều lần liên hệ với anh Lò Văn Q để làm thủ tục cho cháu nhưng anh Q gây khó khăn, không hợp tác.

Vì vậy, chị khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh Lò Văn Q; là con đẻ của anh Quàng Văn H. Chị Hoàng Thị P và anh Quàng Văn H được quyền đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho cháu Q1 Tuấn A theo quy định của luật hộ tịch.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, bị đơn anh Lò Văn Q trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị P có 03 con chung là cháu Lò Thị Thanh T, sinh ngày 28/5/2016, cháu Lò Bảo D, sinh ngày 13/3/2014 và cháu Lò Mạnh Đ, sinh ngày 08/7/2020, đồng thời anh chị đã ly hôn có quyết định công nhận của Tòa án. Vì vậy, cháu Quàng Tuấn A sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá tình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Quàng Văn H trình bày:

Ngày 15/4/2025, anh và chị P kết hôn tại UBND xã H, thành phố S và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Ngày 22/9/2025, chị P sinh cháu Quàng Tuấn A tại Bệnh viện Đ1, được cấp giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12. Tuy nhiên, UBND phường từ chối đăng ký khai sinh do cháu Tuấn A sinh trong thời gian 300 ngày kể từ ngày chị P ly hôn với anh Q. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xác định cháu Tuấn A là con đẻ của anh và chị P.

Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định ADN. Tại kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201017625 ngày 31/10/2025 của Công ty TNHH D1 kết luận: “Người có mẫu ghi tên Quàng Văn H có quan hệ huyết thống cha – con với người có mâu ghi tên Quàng Tuấn A với độ tin cậy 99,999999%".

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lò Văn Q không có mặt theo giấy triệu tập, các đương sự đề nghị Tòa án không hòa giải và giải quyết vắng mặt, đây thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

3

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị P, xác định cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh Lò Văn Q; là con đẻ của anh Quàng Văn H.
  • - Về án phí: Chị Hoàng Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

Chị Hoàng Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh Lò Văn Q; là con đẻ của anh Quàng Văn H. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn Q có địa chỉ tại Bản T, xã M, tỉnh Sơn La nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Trước phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về yêu cầu xác định cha cho con:

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị P, anh Lò Văn Q và anh Quàng Văn H thống nhất xác nhận: Ngày 25/12/2024, chị P và anh Q ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số

4

38/2024/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn. Ngày 15/04/2025, chị P kết hôn với anh Quàng Văn H. Ngày 22/9/2025, chị P sinh cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) tại Bệnh viện Đ1. Anh Q xác định cháu Tuấn A không phải là con đẻ của anh. Chị P và anh H xác định cháu Tuấn A là con đẻ của anh chị.

Tại Kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201017625 ngày 31/10/2025 của Công ty TNHH D1 (theo Quyết định trưng cầu giám định số 02/2025/Quyết định-TCGĐ ngày 29/10/2025 của Tòa án kết luận: “Người có mẫu ghi tên Quàng Văn H có quan hệ huyết thống cha – con với người có mâu ghi tên Quàng Tuấn A với độ tin cậy 99,999999%”. Tại phiên tòa, đại diện kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Quàng Tuấn A không phải con đẻ của anh Lò Văn Q, là con đẻ của anh Quàng Văn H.

Hội đồng xét xử xét thấy, ý kiến thống nhất của các đương sự phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN, từ đó có đủ cơ sở xác định cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh Lò Văn Q; là con đẻ của anh Quàng Văn H. Căn cứ khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chị Hoàng Thị P và anh Quàng Văn H được đăng ký hộ tịch cho cháu Quàng Tuấn A theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Chị Hoàng Thị P yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định. Nguyên đơn có yêu cầu xin miễn án phí nên cần miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 227, Điều 238, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
  • - Khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị P.

Xác định cháu Quàng Tuấn A (tên khai sinh dự kiến) sinh ngày 22/9/2025 theo giấy chứng sinh số 1012, quyển số 12 của Bệnh viện Đ1 không phải là con đẻ của anh Lò Văn Q; cháu Quàng Tuấn A là con đẻ của anh Quàng Văn H, sinh ngày 23/6/1989.

5

Chị Hoàng Thị P và anh Quàng Văn H được đăng ký hộ tịch cho cháu Quàng Tuấn A theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND khu vực 4 - Sơn La;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tráng A Tếnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về tranh chấp xác định cha cho con

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger