Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19-12-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Lò Văn Chiên

2. Ông Đèo Văn Vĩnh

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân -Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hù Thị L, sinh năm 1994; Nơi cư trú: bản M, xã S, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Anh Thào Văn S, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Bản M, xã S, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hù Thị L trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Thào Văn S về chung sống với nhau từ năm 2013 và đăng ký kết hôn ngày 30/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P nay là xã S, tỉnh Lai Châu. Khi kết hôn anh chị hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và kéo dài nhiều năm. Đến năm 2023 mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng do kinh tế quá khó khăn. Chị đã phải đi làm thuê lấy tiền trang trải cuộc sống gia đình nhưng anh S không chia sẻ những khó khăn về kinh tế của gia đình mà thường xuyên đánh đập, xúc phạm và còn đe dọa tính mạng chị. Chị đã quyết định sống ly thân với anh S từ đầu năm 2025 cho đến nay. Trong khi sống ly thân chị có về nhà nhưng bị anh S đuổi ra khỏi nhà. Đến nay, chị xét thấy tình cảm không còn với anh S nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S.
  2. Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là Thào Thị Hồng C, sinh ngày 19/8/2009 và Thào Đức P, sinh ngày 05/6/2011. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Thào Thị Hồng C và đề nghị Tòa án giao con chung Thào Đức P cho anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh S1 cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Ý kiến của bị đơn Thào Văn S: Anh và chị L về chung sống với nhau từ năm 2008 nhưng đến ngày 30/10/2013 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P cũ, kết hôn tự nguyện. Chị L xin ly hôn với anh nhưng anh không nhất trí vì anh không đánh đập chị L, anh không mắc tệ nạn xã hội gì chỉ duy nhất vào ngày rằm tháng 7 anh có uống rượu nên có chửi chị L và chị L đã bỏ nhà đi. Về con chung: Anh xác nhận có 02 con chung như chị L trình bày, nếu phải ly hôn anh cũng có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay con chung Thào Đức P đang ở cùng anh, do anh trực tiếp nuôi dưỡng, còn con chung Thào Thị Hồng C đang ở cùng chị L do chị L nuôi dưỡng. Anh không nhất trí giao con chung Thào Thị Hồng C cho chị L nuôi dưỡng vì chị L là lao động chính nên phải đi làm để nuôi các con; về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án mà không có lý do là vi phạm về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã phải tiến hành lấy lời khai của bị đơn ngoài trụ sở Tòa án để ghi nhận ý kiến của anh S.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hù Thị L và xem xét quyết định: Chị L được ly hôn với anh S; giao con chung Thào Thị Hồng C, sinh ngày 19/8/2009 cho chị L nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và giao con chung Thào Đức P, sinh ngày 05/6/2011 cho anh Thào Văn S nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị L và anh S đều có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung và chia tài sản chung do đương sự không yêu cầu nên không xem xét; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Thào A S2 có nơi cư trú tại bản M, xã S, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu. Anh S2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên đã hoãn phiên tòa. Chị L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 03/12/2025, Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hù Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Thào Văn S là hợp pháp, được hình thành trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài nhiều năm mà nguyên nhân chính là do sự bất đồng quan điểm sống và gánh nặng kinh tế. Chị L trình bày việc anh S thường xuyên có hành vi đánh đập, xúc phạm và đe dọa tính mạng; điều này phù hợp với thực tế hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2025, không còn quan tâm hay chia sẻ trách nhiệm gia đình. Mặc dù tại biên bản lấy lời khai, anh S bày tỏ mong muốn đoàn tụ, nhưng thái độ thực tế của anh lại thể hiện sự thiếu thiện chí khi liên tục vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa dù đã được tống đạt hợp lệ. Kết quả xác minh tại địa phương cũng cho thấy chính quyền đã tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân hạnh phúc không đạt được. Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, việc chấp nhận cho chị Hù Thị L được ly hôn với anh Thào Văn S là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu và nguyện vọng của các đương sự về việc nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Hù Thị L và anh Thào Văn S có 02 con chung là Thào Thị Hồng C, sinh ngày 19/8/2009 và Thào Đức P, sinh ngày 05/6/2011. Đối với việc giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng, cần căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của các con để xem xét:

Hiện nay, cháu Thào Thị Hồng C đang ở cùng chị L và cháu Thào Đức P đang ở cùng anh S. Việc duy trì tình trạng nuôi dưỡng như hiện tại là cần thiết nhằm đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, sinh hoạt và học tập, tránh gây ra những xáo trộn tâm lý không đáng có cho các cháu sau khi cha mẹ ly hôn. Cháu Thào Thị Hồng C là con gái, hiện đang trong độ tuổi trưởng thành và có những thay đổi phức tạp về tâm sinh lý. Việc giao cháu cho mẹ (chị L) trực tiếp chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn phù hợp để cháu nhận được sự chia sẻ, chỉ bảo tận tình từ người mẹ. Căn cứ quy định của pháp luật đối với trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án đã xem xét ý chí của các cháu. Theo đó, cháu Thào Thị Hồng C có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu Thào Đức P có nguyện vọng được ở với bố. Đây là căn cứ quan trọng để Hội đồng xét xử đưa ra quyết định nhân văn và tôn trọng quyền trẻ em. Từ những phân tích nêu trên, mặc dù anh S có nguyện vọng nuôi cả hai con, nhưng xét thấy việc chia đôi quyền nuôi dưỡng như đề nghị của chị L vừa đảm bảo được sự công bằng về quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ, vừa đáp ứng tốt nhất nguyện vọng và điều kiện phát triển của các con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Thào Thị Hồng C cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Thào Đức P cho anh Thào Văn S trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh S đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về chia tài sản chung: Chị L, anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Hù Thị L là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228. Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hù Thị L được ly hôn với anh Thào Văn S.
  2. Về con chung: Giao con chung Thào Thị Hồng C, sinh ngày 19/8/2009 cho chị Hù Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
  3. Giao con chung Thào Đức P, sinh ngày 05/6/2011 cho anh Thào Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.

    Chị Hù Thị L và anh Thào Văn S đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hù Thị L và anh Thào Văn S đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về chia tài sản chung: Chị Hù Thị L và anh Thào Văn S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Hù Thị L.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND khu vực 3 - Lai Châu;
  • - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;
  • - UBND xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hù Thị Lướng xin ly hôn anh Thào Văn Sai vì mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger