Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 12 - 2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thuý

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Cầm Văn Tổ
  2. Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Bà Tường Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh ngày 25/5/1990. Số căn cước công dân: 0141, ngày cấp: 31/12/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản L, xã C, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lò Văn N, sinh ngày 26/5/1993. Số căn cước công dân: 01409, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản L, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị T trình bày như sau:

Chị và anh Lò Văn N kết hôn với nhau từ năm 2012 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) theo quy định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/10/2012. Anh chị đã được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong thời gian hai anh chị cùng đi làm xa nhà, anh N thường xuyên uống rượu, ghen tuông vô cớ. Chị T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh N không thay đổi. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng với anh N đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn N.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lò Vinh Q, sinh ngày 01/3/2013 và cháu Lò Vĩnh T1, sinh ngày 10/11/2016. Do hai anh chị cùng đi làm xa nhà nên các cháu do bà nội chăm sóc. Tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất thoả thuận giao cả hai cháu cho anh N chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh N số tiền là 1.000.000VNĐ/ 01 tháng/01 cháu kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi các cháu trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất tự nguyện thoả thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị tại phiên tòa.

Theo nội dung lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lò Văn N trình bày như sau:

Anh nhất trí với chị Lò Thị T về quá trình kết hôn và chung sống của hai anh chị. Anh N cũng nhất trí việc hai anh chị có mâu thuẫn với nhau nhưng anh cho rằng nguyên nhân là do anh đã không có đủ sự quan tâm, chăm sóc vợ con. Anh N đã nhận ra sai lầm và mong muốn được hoà giải đoàn tụ với chị T để cùng nhau chăm sóc các con.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lò Vinh Q, sinh ngày 01/3/2013 và cháu Lò Vĩnh T1, sinh ngày 10/11/2016. Anh xác nhận hiện các cháu do bà nội chăm sóc và tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất thoả thuận trong trường hợp ly hôn thì giao cả hai cháu cho anh N chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh N số tiền là 1.000.000VNĐ/ 01 tháng/01 cháu kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi các cháu trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất tự nguyện thoả thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã đến địa phương nơi cư trú của anh Lò Văn N để thực hiện tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng. Do anh H thường xuyên không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H. Toà án đã tống đạt trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh N tuy nhiên anh N vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của chị Lò Thị T và anh Lò Văn N với bà Lò Thị C (mẹ đẻ anh N) và ông Điêu Chính T2 (tổ trưởng tổ hoà giải của bản Liềng Quỳnh). Bà C và ông T2 đều xác nhận chị Lò Thị T và anh Lò Văn N tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sơn La theo đúng quy định của pháp luật. Về mâu thuẫn của chị T và anh N thì bà C và ông T2 đều không nắm rõ; gia đình bà chính quyền bản đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 13/10/2025 đối với cháu Lò Vinh Q và cháu Lò Vĩnh T1: cháu T1 xác nhận xin được ở cùng bố trong trường hợp bố mẹ ly hôn; cháu Q không có câu trả lời.

Do anh N không nhất trí ly hôn và các đương sự chưa thống nhất được toàn bộ việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Sau khi chủ toạ công bố đơn xin xét xử vắng mặt của chị Lò Thị T, lý do vắng mặt của anh Lò Văn N và công bố tóm tắt nội dung vụ án, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5; điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng:
  • + Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lò Văn N.
  • + Về con chung: Chấp nhận sự thoả thuận của chị T và anh N. Giao các cháu Lò Vinh Q, sinh ngày 01/3/2013 và cháu Lò Vĩnh T1, sinh ngày 10/11/2016 cho anh Lò Văn N trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu Q, T1 trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh N số tiền là 1.000.000VNĐ/01 tháng/01 cháu; thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2015 cho đến khi các cháu trưởng thành.
  • + Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc chị Lò Thị T và anh Lò Văn N tự nguyện thoả thuận phân chia tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Lò Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và ábn phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Lò Thị T về việc xin ly hôn với anh Lò Văn N. Chị C1 đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 4 thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và xác định quan hệ tranh chấp là xin ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị Lò Thị T và anh Lò Văn N tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2012, anh chị đã được UBND xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/10/2012. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N thường xuyên uống rượu và ghen tuông vô cớ; anh chị tuy sống chung nhưng khoảng 01 năm nay hai anh chị không có sự trao đổi hay quan tâm gì đến nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai anh chị không thể tiếp tục chung sống nên có nguyện vọng xin ly hôn với anh Lò Văn N. Anh N xác nhận hai anh chị có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh không có đủ sự quan tâm đến vợ con nhưng anh N đã nhận ra sai lầm và mong muốn được hoà giải đoàn tụ nên không nhất trí lý hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy chị T không còn tình cảm với anh N, tình trạng hôn nhân của hai anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Lò Thị T và anh Lò Văn N.

[2.2] Về con chung:

Chị T và anh N có 02 con chung là cháu Lò Vinh Q, sinh ngày 01/3/2013 và cháu Lò Vĩnh T1, sinh ngày 10/11/2016. Tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất thoả thuận giao cả hai cháu cho anh N chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh N số tiền là 1.000.000VNĐ/ 01 tháng/01 cháu kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi các cháu trưởng thành.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thoả thuận của chị T và anh N đã đảm bảo quyền lợi cho các con chung; các cháu Q, T1 đều đã trên 07 tuổi, cháu T1 có nguyện vọng ở cùng anh N, cháu Q không có ý kiến. Vì vậy, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho các cháu Q, T1 cần chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị T và anh N.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:

Tại phiên hoà giải ngày 29/10/2025 thì chị T và anh N đã thống nhất tự nguyện thoả thuận về tài sản và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí:

Chị Lò Thị T không thuộc các trường hợp được miễn, giảm án phí nên căn cứ điểm a khoản 5; điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 56, 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 5; điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lò Thị T và anh Lò Văn N.
  2. Về con chung: Chấp nhận sự thoả thuận của chị Lò Thị T và anh Lò Văn N. Giao các cháu Lò Vinh Q, sinh ngày 01/3/2013 và cháu Lò Vĩnh T1, sinh ngày 10/11/2016 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu Q, T1 trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh N số tiền là 1.000.000VNĐ/01 tháng/01 cháu (Một triệu đồng/01 tháng/01 cháu); thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2025 cho đến khi các cháu Q, T1 trưởng thành.

    Anh N, chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Sau khi ly hôn, chị T được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật; không ai được quyền ngăn cản chị thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc chị T và anh N tự nguyện thoả thuận và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung vợ chồng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị Lò Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 150.000VNĐ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu Tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 000372 ngày 10 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Sơn La; chị T còn phải nộp tiền án phí là 150.000VNĐ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND KV4, tỉnh Sơn La;
  • - THADS tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Chiềng Mung, tỉnh Sơn La;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về xin ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị T và anh Lò Văn N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger