Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 01/12/2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, bà Đỗ Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/11/2025 và 01/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; Địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S - Số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Nay là: Tầng A và tầng 2 tòa nhà S - Số A P, phường S, thành phố Hồ Chí Minh); Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Đình H - Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ vùng; Người đại diện theo uỷ quyền lại: Bà Lý Tố O - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt khi xét xử và vắng mặt khi tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1971; Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1995; Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 2001; Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là Ngân hàng V1) trình bày:

Vào ngày 24/7/2023 giữa Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là Ngân hàng V1) - Chi nhánh B1 - Phòng G và bà Nguyễn Thị N đã ký hợp đồng tín dụng số 2681522.23 với giá trị hạn mức tín dụng là 1.000.000.000 đồng. Mục đích vay để sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu và mua sắm trang thiết bị tại P, T, Y, Bắc Ninh. Lãi suất cụ thể quy định tại Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.

Tại Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 26/7/2023 bà N đã nhận số tiền 1.000.000.000 đồng. Mục đích vay để sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu và mua sắm trang thiết bị tại P, T, Y, Bắc Ninh. Thời hạn vay: 180 tháng từ ngày 27/7/2023 đến ngày 26/7/2038. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 11,9%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. Phương thức trả nợ: Hoàn trả khoản vay gốc 03 tháng/01 lần vào ngày 30, mỗi 03 tháng trả 16.670.000 VNĐ, ngày trả nợ gốc đầu tiên 30/10/2023, số còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi vào ngày 30 hàng tháng theo dư nợ thực tế, ngày trả nợ lãi đầu tiên 30/08/2023.

Ngân hàng V1 và bà Nguyễn Thị N ký Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 với hạn mức 100.000.000 đồng. Lãi suất và biểu phí của thẻ tín dụng được quy định trên website của Ngân hàng V1. Tiền lãi và phí thẻ tín dụng được sao kê cụ thể hàng tháng trên ứng dụng Ngân hàng.

Để đảm bảo cho khoản vay này, bà Nguyễn Thị N đã thế chấp tài sản của mình là quyền sử dụng 145m² đất và tài sản trên đất tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (Nay là: Thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp GCNQSDĐ số S807887 ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang T2; Ngày 28/6/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tặng cho bà Nguyễn Thị N theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 731, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/07/2023 tại Phòng C tỉnh Bắc Ninh và Văn bản cam kết ngày 24/07/2023.

Sau khi nhận tiền từ ngân hàng V1, bà Nguyễn Thị N chưa trả được tiền theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Bà N đã trả được 289.008.505 đồng, trong đó 100.020.000 đồng tiền gốc, 187.391.731 đồng tiền lãi trong hạn, 948.324 đồng tiền lãi quá hạn, 648.450 đồng tiền lãi chậm trả lãi. Do bà Nguyễn Thị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 06/6/2025. Khi khoản vay của bà N phát sinh nợ quá hạn, ngân hàng V1 đã gửi thông báo và đòi nhiều lần nhưng bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết.

Do nhiều lần làm việc với bà N để yêu cầu trả nợ nhưng bà N không trả nên Ngân hàng V1 đã khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2025 là 1.163.804.734 đồng, trong đó nợ gốc 980.615.789 đồng, nợ lãi trong hạn 66.592.819 đồng, nợ lãi quá hạn 90.965.375 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 2.276.194 đồng, phí thẻ tín dụng 23.354.557 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2681522.23 ngày 24/07/2023, Đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Nếu bà N không trả được nợ thì Ngân hàng V1 có quyền tự mình hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày trong biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2025: Bà đã được Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng V1) thông báo về việc khởi kiện. Bà xác nhận ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng V1, xác nhận chữ ký trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đúng là chữ ký của bà. Bà N đồng ý trả toàn bộ số tiền như Ngân hàng đã trình bày và đồng ý tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Bà đề nghị ngân hàng tạo điều kiện miễn giảm tiền lãi và gia hạn thời gian thanh toán nợ. Nếu bà không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền tự mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp sau đây để thu hồi toàn bộ khoản nợ: Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 145m² và toàn bộ công trình xây dựng trên đất đã được UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S807887 ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang T2; ngày 28/6/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cho Nguyễn Thị N. Bà đang trong quá trình giao bán đất để trả nợ cho ngân hàng. Bà xác định tài sản thế chấp trên là tài sản của riêng bà. Từ khi thế chấp đến nay tài sản vẫn giữ nguyên, không có thay đổi gì. Hiện nay trên tài sản thế chấp có mẹ chồng bà là bà Trần Thị T1, sinh năm 1971 và hai em trai chồng là Nguyễn Quang B, sinh năm 1995 và Nguyễn Quang S, sinh năm 2001 sinh sống. Bà xác định mẹ chồng và hai em trai chồng không liên quan đến việc tiền ngân hàng, không liên quan đến tài sản thế chấp. Việc vay tiền ngân hàng và thế chấp tài sản là việc riêng của bà. Vì vậy bà đề nghị Tòa án không đưa mẹ chồng và hai em trai chồng vào tham gia tố tụng trong vụ án. Đề nghị ngân hàng làm rõ khoản tiền nợ và tiền lãi. Cung cấp chi tiết cho các khoản tiền bà đã thanh toán cho ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quang T trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2025: Đề nghị ngân hàng làm rõ khoản tiền nợ và tiền lãi. Cung cấp chi tiết bảng thanh toán tiền. Sau đó ông sẽ có ý kiến chi tiết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T1, anh Nguyễn Quang B và anh Nguyễn Quang S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không có văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án theo đúng quy định của pháp luật nhưng không tiến hành hòa giải được nên Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2025 là 1.163.804.734 đồng, trong đó nợ gốc 980.615.789 đồng, nợ lãi trong hạn 66.592.819 đồng, nợ lãi quá hạn 90.965.375 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 2.276.194 đồng, phí thẻ tín dụng 23.354.557 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2681522.23 ngày 24/07/2023, Đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Nếu bà N không trả được nợ thì Ngân hàng V1 có quyền tự mình hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Bị đơn là bà N xác nhận số nợ gốc, nợ lãi và tài sản thế chấp theo như yêu cầu của ngân hàng là đúng và đồng ý trả. Tuy nhiên do kinh tế khó khăn nên xin miễn giảm lãi và xin thêm thời gian để bán tài sản trả nợ ngân hàng. Trong thời gian qua gia đình cũng cố gắng thu xếp tiền để trả ngân hàng nhưng chưa thực hiện được. Bà cũng đồng ý để ngân hàng tự mình hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên toà là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 464, 465 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2025 là 1.163.804.734 đồng, trong đó nợ gốc 980.615.789 đồng, nợ lãi trong hạn 66.592.819 đồng, nợ lãi quá hạn 90.965.375 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 2.276.194 đồng, phí thẻ tín dụng 23.354.557 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2681522.23 ngày 24/07/2023, Đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Nếu bà N không trả được tiền thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo như hợp đồng thế chấp đã ký.

Về chi phí thẩm định: Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về việc vắng mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa ngày 31/10/2025, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 08 của Hội đồng xét xử, phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 19/11/2025. Tại phiên toà ngày 19/11/2025, Kiểm sát viên, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị hoãn phiên toà, căn cứ vào Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố dụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Theo Quyết định hoãn phiên toà số 10 của Hội đồng xét xử, phiên toà được mở lại vào hồi 14 giờ ngày 28/11/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người này.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị N phải trả số tiền gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa bà N và Ngân hàng V1 và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Bà N không có đăng ký kinh doanh, mục đích vay tiền để sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu và mua sắm trang thiết bị nên đây là vụ án dân sự, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn là bà Nguyễn Thị N trú tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh) thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1 Hợp đồng tín dụng:

Xét hợp đồng tín dụng hạn mức số 2681522.23 ngày 24/7/2023 giữa ngân hàng V1 với bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc ký hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Bà N đã nhận đầy đủ tiền nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận nên Ngân hàng V1 đã khởi kiện ra Toà án buộc bà N phải trả tiền cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký.

Về số tiền nợ gốc: Bà N xác nhận số nợ gốc theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng và đồng ý trả số tiền nợ 980.615.789 đồng. Vì vậy, vấn đề này không phải chứng minh.

Về tiền lãi: Hợp đồng tín dụng giữa các đương sự được ký kết ngày 24/7/2023 nên mức lãi suất các đương sự thỏa thuận được tính căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau: a) Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”.

Tại Hợp đồng tín dụng kèm theo Tài liệu giải ngân và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa các đương sự thể hiện mức lãi suất cho vay 11,9%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ qua hạn. Lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên khoản tiền lãi chậm trả từ ngày khoản tiền lãi đó đến hạn phải thanh toán cho đến ngày Bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản tiền lãi đó cho Ngân hàng.

Các nội dung thỏa thuận này phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có hiệu lực pháp luật. Bà N xác nhận số nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng nhưng xin miễn giảm tiền lãi do điều kiện kinh tế khó khăn, không có khả năng chi trả và đề nghị được gia hạn thời gian thanh toán nợ nhưng Ngân hàng V1 không đồng ý. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định số nợ gốc, nợ lãi theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng. Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2025 là 1.163.804.734 đồng, trong đó nợ gốc 980.615.789 đồng, nợ lãi trong hạn 66.592.819 đồng, nợ lãi quá hạn 90.965.375 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 2.276.194 đồng, phí thẻ tín dụng 23.354.557 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2681522.23 ngày 24/07/2023, Đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

2.2 Hợp đồng thế chấp tài sản:

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 731, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/07/2023 giữa bà N với ngân hàng V1 thì thấy: Thửa đất thế chấp có diện tích 145m² tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Quang T2 và đã tặng cho bà Nguyễn Thị N ngày 28/6/2023. Hợp đồng được ký kết tại Phòng C tỉnh Bắc Ninh, đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì thấy thửa đất này và toàn bộ công trình xây dựng trên đất vẫn giữ nguyên hiện trạng từ khi thế chấp cho ngân hàng V1 đến nay, không có thay đổi. Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật nên bà N không trả được tiền thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng V1 tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn là bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí thẩm định: Bà N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng V1 đã nộp 10.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên bà N phải trả cho ngân hàng số tiền này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 295, 298, 299, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 28/11/2025 là 1.163.804.734 đồng, trong đó nợ gốc 980.615.789 đồng, nợ lãi trong hạn 66.592.819 đồng, nợ lãi quá hạn 90.965.375 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 2.276.194 đồng, phí thẻ tín dụng 23.354.557 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2681522.23 ngày 24/07/2023, Đề nghị phát hành thẻ ngày 15/7/2023 và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Bà N không trả được tiền thì Ngân hàng V1 có quyền tự mình hoặc đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng 145m² đất và tài sản trên đất tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp GCNQSDĐ số S807887 ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang T2; Ngày 28/6/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tặng cho bà Nguyễn Thị N theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 731, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/07/2023 tại Phòng công chứng số B tỉnh Bắc Ninh và Văn bản cam kết ngày 24/07/2023.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà N phải chịu 10.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng V1 đã nộp 10.000.000 đồng tiền tạm ứng nên bà N phải trả cho Ngân hàng V1 10.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Án phí: Bà N phải chịu 46.914.142 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q 21.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001047 ngày 16/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Bắc Ninh).

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 7-BN;
  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh
  • (Phòng THADS khu vực 7);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 01/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Q tranh chấp hợp đồng tín dụng Nguyễn Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger