|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-PT Ngày 12 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Nghĩa, bà Điêu Thị Kim Liên.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 04/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Mai Thị D đối với bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La.
- Mai Thị D, sinh 18/12/1965; tại: huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Tổ C, phường Q, TP S, tỉnh Sơn La (nay là tổ C, phường T, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mai Viết C và bà Trịnh Thị N (đều đã chết); chồng là Vũ Thế K, sinh năm 1965 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến ngày 24/02/2025, được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Thị T, sinh 17/6/1976; tại C, thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (nay là xã P, thành phố Hà Nội); nơi cư trú: Tổ H, phường T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Trí H, sinh 1954 và bà Nguyễn Thị V, sinh 1956; chồng là Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1973 và có 02 người con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến ngày 24/02/2025, được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tiếp nhận đơn tố giác, ngày 17/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) thực hiện xác minh, triệu tập Mai Thị D để làm rõ nội dung đơn, Mai Thị D tự giác khai nhận: Ngày 24/12/2024 và từ ngày 13/01/2025 đến ngày 16/01/2025 Mai Thị D và Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi đánh bạc (mua bán số lô, số đề) bằng tin nhắn điện thoại di động; Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ của Mai Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, số IMEL 1 là 862251053663635, gắn sim số 0976122477; cùng ngày cơ quan CSĐT tiến hành triệu tập Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T đã tự nguyện khai nhận hành vi đánh bạc và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6 Plus màu trắng, số IMEL 354393060738508, gắn sim số 0385697997; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs Max màu vàng, số IMEL 1 là 357261095863343, gắn sim số 0818062688; thực hiện kiểm tra nội dung thông tin dữ liệu trong điện thoại phát hiện nội dung tin nhắn, hình ảnh thể hiện việc đánh bạc trái phép giữa Nguyễn Thị T với Mai Thị D và cả hai cùng bị tạm giữ để điều tra.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T và Mai Thị D đều khai nhận: Ngày 24/12/2024, D sử dụng điện thoại (không rõ nhãn hiệu) gắn sim số 0836240168 gọi điện cho T, cả hai cùng trao đổi thống nhất việc đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề (lấy kết quả giải sổ xố kiến thiết miền bắc hàng ngày làm hình thức chơi), cụ thể: số lô là chọn các cặp số tự nhiên và mua với số điểm muốn mua so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải, tỷ lệ trúng thưởng 01 điểm (21.700VNĐ = 80.000VNĐ); lô xiên chọn 02 cặp số và mua với 60% tổng số tiền muốn mua so sánh với 02 số cuối hoặc 02 số đầu của tất cả các giải, tỷ lệ trúng thưởng tương ứng với 100% số tiền đã mua nhân lên gấp 10 lần; ghi số đề (lấy kết quả giải sổ xố kiến thiết miền bắc hàng ngày làm hình thức chơi), cụ thể: chọn cặp số tự nhiên và mua với 73% tổng số tiền muốn mua so sánh với 02 số cuối hoặc 02 số đầu của giải đặc biệt, tỷ lệ trúng thưởng tương ứng với 100% số tiền đã mua nhân lên gấp 70 lần. Riêng ngày 24/12/2024 T và D thống nhất số lô là 22.000VNĐ/01 điểm, số đề là 75% tổng số tiền muốn mua; phương thức thanh toán tiền đánh bạc bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi thống nhất, Nguyễn Thị T và Mai Thị D thực hiện đánh bạc như sau:
Lần 1: Khoảng 18 giờ ngày 24/12/2024, D nhắn tin mua của Thương số lô và số đề gồm: số lô 48, 68, 33 mỗi số 40 điểm; số lô 84, 69, 96 mỗi số 20 điểm (tổng số lô là 180 điểm, tương ứng 3.960.000 đồng); số đề 80, 99, 11, 77, 54, 59, 24 mỗi số 200.000 đồng; số đề 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 100.000 đồng và số đề 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 120.000 đồng (tổng số tiền mua đề là 2.700.000 đồng). Kết quả Dậu trúng được số đề 44 tương ứng với 7.000.000 đồng. Số tiền Dậu đánh bạc là 13.660.000 đồng.
Lần 2: Ngày 13/01/2025 T nhắn tin mua của D số lô, số đề gồm: số lô 62, 56, 65, 82 mỗi số 35 điểm; các số lô 59, 95 mỗi số 10 điểm; số lô 38, 83, 25, 52, 32 mỗi số 05 điểm; số lô 47, 74 mỗi số 15 điểm; số lô 23 là 20 điểm; số lô 47, 74, 44, 77 mỗi số 25 điểm; số đề 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 mỗi số 20.000 đồng; các số xiên 2 là 13-34, 13-43, 18-34, 18-43 mỗi số 50.000 đồng; các số xiên 2 là 83-23, 83-32, 38-23, 38-32, 38-47, 38-74, 83-47, 83-74, 23-47, 23-74, 32-47, 32-74, 23-52, 23-25, 32- 25, 32-52 mỗi số 30.000 đồng (tổng tiền số lô, số đề là 7.969.500 đồng). Thương trúng được số lô 95, 47; số lô xiên 13, 43 tương ứng với số tiền là 4.500.000 đồng. Số tiền T đánh bạc là 12.469.500 đồng.
Cùng ngày D nhắn tin mua của Thương số lô gồm: số lô 79, 97, 87 mỗi số 200 điểm; số lô 78 là 100 điểm; số lô 89, 98 mỗi số 80 điểm (tổng số tiền lô là 18.662.000 đồng). Dậu trúng được số lô 87, 97 tương ứng với số tiền là 32.000.000 đồng. Số tiền Dậu đánh bạc là 50.662.500 đồng.
Lần 3: Ngày 14/01/2025 T nhắn tin mua của D số lô, số đề gồm: số lô 44, 34, 43, 38, 36, 63, 33, 66 mỗi số 25 điểm; số lô 44, 23, 32, 56, 65, 38, 83 mỗi số 15 điểm; số lô 05, 50, 00, 55 mỗi số 15 điểm (tổng tiền số lô, số đề là 7.920.500 đồng). Thương trúng được số lô 63, 66, 55, 50 (số lô 50 trúng thưởng 02 lần) tương ứng với số tiền là 7.600.000 đồng. Số tiền T đánh bạc là 15.520.500 đồng.
Cùng ngày D nhắn tin mua của T các số lô, số đề gồm: số lô 89, 98 mỗi số 170 điểm; số lô 79, 97, 33 mỗi số 50 điểm; số lô 36, 63, 32 mỗi số 25 điểm. Các số đề 36, 63, 33, 26, 62, 56, 65, 76, 67, 69, 96, 13, 31, 11 mỗi số 100.000 đồng; số đề 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số 40.000 đồng; số đề 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96 mỗi số 90.000 đồng. (tổng tiền số lô, số đề là 14.231.500 đồng). Dậu trúng được số lô 63 tương ứng với số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền Dậu đánh bạc là 16.231.500 đồng.
Lần 4: Ngày 15/01/2025 T nhắn tin mua của D số lô, số đề gồm: số lô 09, 21, 15 mỗi số 35 điểm; số lô 77, 81 mỗi số 25 điểm; số lô 05, 50, 56, 65, 76, 67, 23, 32, 38, 83 mỗi số 10 điểm; số đề 88 là 200.000 đồng; các số đề 60, 06, 15, 51 mỗi số 250.000 đồng; số đề 61 là 500.000 đồng (tổng tiền số lô, số đề là 6.774.500 đồng). Thương trúng được số lô 81, 50 và 15 (số lô 15 trúng thưởng 02 lần) tương ứng với số tiền là 9.200.000 đồng. Số tiền T đánh bạc là 15.974.500 đồng.
Cùng ngày D nhắn tin mua của Thương số lô, số đề gồm: Số lô 98 là 200 điểm; số lô 89, 79 mỗi số 150 điểm; số lô 87, 97 mỗi số 100 điểm; số lô 81 là 80 điểm; các số đề 18, 81, 38, 83, 33, 55, 66 mỗi số 200.000 đồng; các số đề 28, 82, 58, 85, 78, 87, 89, 98, 08, 80 mỗi số 100.000 đồng; các số đề 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 100.000 đồng (tổng số tiền lô, đề là 19.408.000 đồng). Dậu trúng được số lô 79, 81, 82 tương ứng với số tiền là 25.400.000 đồng. Số tiền Dậu đánh bạc là 44.808.000 đồng.
Lần 5: Ngày 16/01/2025 T nhắn tin mua của D số lô, số đề gồm: số đề 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79 mỗi số 50.000 đồng; số đề 17, 71 mỗi số 50.000 đồng, số lô 94 là 50 điểm; các số lô 98, 89, 67, 76 mỗi số 15 điểm; các số lô 92, 29, 56, 65, 25, 52 mỗi số 20 điểm; các số lô 89, 98 mỗi số 35 điểm; lố xiên 2 là 89, 98 mua 300.000 đồng; số đề 68, 86, 66, 88 mỗi số 150.000 đồng; các số lô 68, 86, 66, 88 mỗi số 10 điểm. (tổng số tiền lô, đề là 8.434.000 đồng).
Thương trúng được số lô là 94, 88, 89, 52, 68, 86 (số F, 86 trúng thưởng 02 lần), tương ứng với số tiền là 13.600.000 đồng. Số tiền T đánh bạc là 22.034.000 đồng.
Cùng ngày D nhắn tin mua của Thương số lô, số đề gồm: Số lô 89 là 320 điểm; số lô 98 là 250 điểm; các số lô 27, 65, 46, 64, 79, 97 mỗi số 35 điểm; số đề 05, 50, 25, 52, 55, 00, 05, 50, 57, 75, 59, 95, 56, 65, 45, 54, 15, 51 mỗi số 100.000 đồng; các số đề từ 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số 45.000 đồng, các số đề 05, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95 mỗi số 130.000 đồng (tổng số tiền lô, đề là 19.517.500 đồng). Dậu trúng được số lô 89 tương ứng với số tiền là 25.600.000 đồng. Số tiền Dậu đánh bạc là 45.117.000 đồng.
Ngày 12/01/2025, Nguyễn Thị T đã chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M) số 0982768833 tên NGUYEN THI THUONG đến tài khoản ngân hàng TMCP Q1 (M) số 0964627190 tên VU THI HOAI THU (Vũ Thị Hoài T1). Ngày 13/01/2025, Mai Thị D chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng cho Nguyễn Thị T. Số tiền đánh bạc còn lại T và D chưa thanh toán với nhau.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan CSĐT làm việc với Công ty X, thu thập biên bản kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 24/12/2024 và từ ngày 13/01/2025 đến ngày 16/01/2025. Kết quả mở thưởng ngày 24/12/2024 và các ngày từ 13/1/2025 đến 16/1/2025 trùng khớp với các số lô, số đề, số lô xiên đã trúng thưởng của T và D.
Như vậy, số tiền Nguyễn Thị T sử dụng để đánh bạc là 65.998.500 đồng (trong đó tổng số tiền T mua số lô, số đề, số lô xiên 2 là 31.098.500 đồng, tổng số tiền T thắng cược là 34.900.000 đồng). Số tiền Mai Thị D sử dụng để đánh bạc là 170.478.500 đồng (trong đó tổng số tiền D mua số lô, số đề là 78.479.500 đồng, tổng số tiền D thắng cược là 92.000.000 đồng).
Tiến hành xác minh làm rõ đối với tài khoản ngân hàng M số 0964627190 xác định là tài khoản của chị Vũ Thị Hoài T1 (con gái của D), chị T1 xác định không biết mục đích nhờ chuyển tiền của D, không nhận được lợi ích gì thông qua việc chuyển tiền. Đối với điện thoại gắn sim số 0836.240.168, D khai do chiếc điện thoại bị hỏng nên đã vứt bỏ không đủ căn cứ để truy tìm, thu giữ.
Tại Bản Cáo trạng số: 33/CT-VKSKV1 ngày 11 tháng 08 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Sơn La đã truy tố Mai Thị D và Nguyễn Thị T về tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Ngày 19/9/2025, Nguyễn Thị T giao nộp số tiền 5.000.000 đồng và Mai Thị D giao nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La (Biên lai thu số 0000128 và số 0000129) nhằm khắc phục hậu quả.
* Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025, Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La đã xét xử và Quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm b, s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Mai Thị D và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt các bị cáo:
- Mai Thị D 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến ngày 24/02/2025. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Nguyễn Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến ngày 24/02/2025. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Do không nhất trí đối với một phần quyết định của bản án sơ thẩm. Ngày 26/9/2025, các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T kháng cáo với nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án của Toà án cấp sơ thẩm, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng chủ thể và nội dung kháng cáo nên cần chấp nhận. Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La xét xử các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo nhận tội và cung cấp bổ sung Biên lai thu tiền khắc phục hậu quả, án phí theo đơn tự nguyện thi hành án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T; sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La theo hướng: Giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.
- Các bị cáo nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2025 các bị cáo có đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T làm trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể và phạm vi kháng cáo nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
-
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Số tiền bị cáo Mai Thị D mua số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị T là 78.479.500 đồng; số tiền Mai Thị D thắng cược 92.000.000 đồng. Số tiền bị cáo Nguyễn Thị T mua số lô, số đề của bị cáo Mai Thị D là 31.098.500 đồng; số tiền bị cáo Nguyễn Thị T thắng cược là 34.900.000 đồng.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc với Công ty X, thu thập biên bản kết quả xổ số kiến thiết Miền B. Kết quả mở thưởng ngày 24/12/2024 và các ngày từ 13/1/2025 đến 16/1/2025 trùng khớp với các số lô, số đề, số lô xiên đã trúng thưởng của Mai Thị D và Nguyễn Thị T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc, quy định điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
-
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La đã nhận định, đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; được chính quyền địa phương nhận xét, đánh giá tốt việc chấp hành chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định ở nơi cư trú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi lập biên bản ghi lời khai xác minh nội dung đơn tố cáo, bị cáo Mai Thị D đã khai ra đồng phạm là Nguyễn Thị T; khi Nguyễn Thị T được cơ quan điều tra triệu tập đã tự nguyện khai ra việc đánh bạc cùng Mai Thị D và giao nộp 02 điện thoại chứa đựng tài liệu chứng minh hành vi đánh bạc của cả 2 bị cáo; các bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền khắc phục hậu quả (Mỗi bị cáo nộp 5.000.000 đồng). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng: bị cáo Mai Thị D có bố đẻ là Mai Văn C1 được UBND tỉnh tặng bằng khen do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp; bị cáo Nguyễn Thị T là cháu của liệt sĩ Nguyễn Chi H1 (Quyết định số 255 T.Tg ngày 27/10/1970) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới bổ sung theo đơn kháng cáo gồm: Biên lai thu tiền khắc phục hậu quả theo đơn tự nguyện thi hành án và tiền án phí hình sự sơ thẩm, cụ thể:
- Bị cáo Mai Thị D: Ngày 26/9/2025 nộp số tiền 10.000.000 đồng; ngày 11/11/2025 nộp số tiền 20.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0000149, 0000158, 0000255 để khắc phục hậu quả; Ngày 13/11/2025 nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, theo biên lai thu số 0000263 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
- Bị cáo Nguyễn Thị T: Ngày 26/9/2025 nộp số tiền 10.000.000 đồng; ngày 11/11/2025 nộp số tiền 10.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0000148, 0000254 để khắc phục hậu quả; Ngày 30/10/2025 nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, theo biên lai thu số 0000231 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Căn cứ Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: Người phạm tội tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của Tòa án được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, các bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Việc chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và việc cho các bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T; sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên toà.
- Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T; sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La như sau:
-
Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Mai Thị D và bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Mai Thị D 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/12/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mai Thị D.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/12/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
Giao bị cáo Mai Thị D và bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Mai Thị D và bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo nào cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo nào thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Ghi nhận bị cáo Mai Thị D đã nộp số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), khắc phục hậu quả (Truy thu nộp ngân sách Nhà nước) và án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), theo Quyết định tại Bản án sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La. Bị cáo còn phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền 125.478.500đ (Một trăm hai lăm triệu, bốn trăm bẩy mươi tám nghìn, lăm trăm đồng).
- Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), khắc phục hậu quả (Tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước) và án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), theo Quyết định tại Bản án sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La. Bị cáo còn phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.998.500đ (Năm mươi triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn, lăm trăm đồng).
-
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Mai Thị D, Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 05/2025/HS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 05/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T, Mai Thị D phạm tội đánh bạc
