|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 tháng 12 năm 2025 V/v xin ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ
Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/DS-HNGĐ ngày 06/11/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Tòng Thị K, sinh năm 2001. Nơi ĐKNHTT và nơi ở: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Hà Văn S, sinh ngày 03/3/1998. Nơi ĐKNHTT và nơi ở: Tiểu khu N, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 11 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tòng Thị K trình bày như sau:
Chị K và anh Hà Văn S tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã C, tỉnh Sơn La) vào ngày 23/7/2019. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 08/8/2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Anh chị có hai con chung là cháu Hà Thị Kim Thư S1 ngày 14/7/2019, cháu Hà Yến C sinh ngày 23/02/2021. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao cả hai con chung cho anh S1 nuôi dưỡng các con đến khi các con trưởng thành, chị đề xuất mức cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh S1 là 1.000.000VNĐ/ 01 tháng/ 02 cháu. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có.
Tại bản tự khai ngày 11 tháng 11 năm 2025 và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 11 tháng 11 năm 2025 anh Hà Văn S trình bày:
Anh và chị Tòng Thị K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã C, tỉnh Sơn La) vào ngày 23/7/2019. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cãi vã nhau thường xuyên, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm gì tới nhau. Với yêu cầu xin ly hôn của chị K, anh đồng ý lý hôn. Anh chị có có hai con chung là cháu Hà Thị Kim Thư S1 ngày 14/7/2019, cháu Hà Yến C sinh ngày 23/02/2021. Từ khi ly thân đến nay hai cháu ở cùng anh. Sau khi ly hôn anh nhận trách nhiệm nuôi dưỡng con chung đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con chung mà chị S1 đề xuất là 1.000.000VNĐ/ 01 tháng/ 01 cháu. Anh xác nhận mức lương hiện nay của anh từ 7.000.000VNĐ đến 8.000.000VNĐ một tháng đảm bảo điều kiện để nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có. Do tính chất công việc không có mặt theo triệu tập của Tòa án được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Do nguyên đơn, bị đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về hôn nhân cho ly hôn giữa chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S.
- Về con chung: Giao cháu Hà Thị Kim Thư S1 ngày 14/7/2019, cháu Hà Yến C sinh ngày 23/02/2021 cho anh Hà Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chị Tòng Thị K cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S mức cấp dưỡng 1.000.000VNĐ/01
tháng/02 cháu. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 12 năm 2025 đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có khả năng lao động.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Về án phí: Chị Tòng Thị K phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Tòng Thị K yêu cầu xin ly hôn đối với anh Hà Văn S, nơi cư trú tiểu khu N, xã C, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 4 thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã C, tỉnh Sơn La) vào ngày 23/7/2019. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Anh chị đều xác nhận thời gian chung sống hòa thuận đến tháng 8 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị K xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, cương quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh S đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị K. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh S mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S.
[2.2] Về con chung:
Chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S có hai con chung là cháu Hà Thị Kim Thư S1 ngày 14/7/2019, cháu Hà Yến C sinh ngày 23/02/2021.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị K, anh S1 đều đồng nhất quan điểm giao con chung cho anh S1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K mức 1.000.000 đồng trên 01
tháng cho 02 cháu. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh S1 có nguyện vọng được nuôi con chung là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với thực tế. Thời gian ly thân các con chung do anh S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mức cấp dưỡng nuôi con chung chị K đề xuất được anh S1 nhất trí, phù hợp với điều kiện của người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung chưa thành niên. Giao cháu Hà Thị Kim T và cháu Hà Yến C cho anh Hà Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chị Tòng Thị K cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S mức cấp dưỡng 1.000.000VNĐ/01 tháng/02 cháu. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 12 năm 2025 đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có khả năng lao động. V
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:
Chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S xác nhận không có tài sản chung, nợ chung vợ chồng.
[2.4] Về án phí:
Chị Tòng Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn và 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Tòng Thị K và anh Hà Văn S.
- Về con chung: Giao cháu Hà Thị Kim Thư S1 ngày 14/7/2019, cháu Hà Yến C sinh ngày 23/02/2021 cho anh Hà Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có.
- Về án phí: Chị Tòng Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn và 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000672 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La, chị K còn phải nộp tiếp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Chị Tòng Thị K cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/01 tháng/02 cháu. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 12 năm 2025 đến khi cháu T, cháu C trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, chị K được quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về xin ly hôn
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
