|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2026/HS-PT Ngày: 07/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu
Ông Nguyễn Xuân Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Phạm Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 209/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2025/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 120/2025/HSPT-QĐ ngày 20/11/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 131/2025/HSPT-QĐ ngày 18/12/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 321/TB-TA ngày 29/12/2025 đối với bị cáo Vũ Thị T, do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
* Bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị: Vũ Thị T, sinh ngày 18/11/1966; số CCCD: 031166004739; nơi thường trú: Tổ B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Tổ dân phố Đ, phường H, thành phố H); nơi ở: Số B đường N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là B đường N, phường H, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức B và bà Vũ Thị L; có chồng là Đàm Việt H (đã chết) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/5/2025 đến ngày 29/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Trong vụ án còn có 03 bị cáo khác là Nguyễn Thị Ngọc B1, Phạm Thị L1 và Nguyễn Trí T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 21/5/2025, Nguyễn Thị Ngọc B1,Vũ Thị T,Phạm Thị L1và Nguyễn Trí T1 lần lượt đến nhà số B cầu T đường Đ thăm bà H1 bị ốm. Ngồi chơi được một lúc thì bà H1 vào giường bên trong đi ngủ, còn B1, L1, T1 và T vẫn ngồi nói chuyện. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, B1 thấy cuối giường bên trong góc nhà bà H1 có 01 bộ bài tú lơ khơ nên đã cầm lên nháo bài. L1, T1 và T hiểu ý là cùng nhau đánh “ù”. Cả nhóm thống nhất cách chơi như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá chia cho 04 người, người nào chia bài sẽ được 09 lá bài, những người chơi còn lại sẽ được chia 08 lá bài, những lá bài còn thừa sẽ được để ở giữa bốc theo từng vòng. Người chia bài sẽ đấu đầu tiên theo vòng tròn từ phải sang trái, người bên cạnh không ăn được lá bài để ghép thành bộ sẽ bốc bài thừa ở giữa. Bốn người đánh lần lượt đến khi bốc hết bộ bài thừa sẽ hạ bài để tính toán người về ở nhất, nhì, ba, bét bằng cách cộng điểm các quân bài còn lại của mình. Người có số điểm thấp nhất sẽ về nhất và thắng tiền của 03 người còn lại. Người nào hạ bài không ghép được sẽ tính là “cháy”, người nào ghép đủ 08 lá bài thành bộ sẽ tính là “ù”. Người về nhất sẽ ăn tiền của người về nhì, ba, bét lần lượt là 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng. Người nào “cháy” sẽ phải trả tiền cho người về nhất 50.000 đồng. Người nào “ù” sẽ ăn tiền của những người còn lại 100.000 đồng và sẽ để ra 20.000 đồng để khi chơi xong cả nhóm sẽ lấy tiền này ra mua đồ ăn liên hoan. Khi kết thúc mỗi ván bài sẽ thanh toán luôn tiền thắng, thua cho nhau bằng tiền mặt. Quá trình các đối tượng đánh bài, bà H1 mệt đi ngủ nên không biết. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Công an phường V bắt quả tang, thu giữ 01 bộ tú lơ khơ 52 lá và số tiền 16.000.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của từng bị đối tượng như sau: Tám sử dụng 1.000.000 đồng (khi bị bắt đang thắng số tiền 420.000 đồng; L1 sử dụng 2.200.000 đồng (khi bị bắt đang thắng số tiền 490.000 đồng); B1 sử dụng 3.520.000 đồng (khi bị bắt đang thua số tiền 530.000 đồng); T sử dụng 9.280.000 đồng (khi bị bắt đang thua số tiền 380.000 đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 20/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Đánh bạc” và xử phạt bị cáo 09 tháng tù, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 21/5/2025 đến ngày 29/5/2025, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 23/9/2025, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKSHP-P7, ngày 06/10/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị T, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm theo hướng căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng theo hướng áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo giao nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền thể hiện đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm và đơn xin xác nhận về điều kiện hoàn cảnh gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như được mô tả trong bản án sơ thẩm, nhất trí với tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện được nuôi dưỡng và chăm sóc 02 cháu nội khi bố mẹ đã ly hôn và lo kinh tế gia đình vì chồng bị cáo đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong thời hạn luật định nên là kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ, ngày 21/5/2025, tại số nhà B Cầu T đường Đ, phường V, quận N (nay là phường N), thành phố Hải Phòng, Vũ Thị T,Nguyễn Thị Ngọc B1,Phạm Thị L1 và Nguyễn Trí T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài “ù” mục đích được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 16.000.000 đồng. Với hành vi nêu trên, các bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Về tội danh bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, thấy rằng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố đẻ là thương binh. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như nhận định và áp dụng của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ. Căn cứ tính chất hành vi, vai trò của bị cáo trong vụ án, HĐXX thấy rằng việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ và phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật; bị cáo giao nộp tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo phải trực tiếp cùng con trai nuôi dưỡng hai cháu nội khi bố mẹ đã ly hôn trong khi đó chồng bị cáo đã chết. HĐXX thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú và phải chịu thời gian thử thách 18 tháng cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. Sửa bản án sơ thẩm số 61/2025/HS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị T.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc".
Giao bị cáo Vũ Thị T cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Bị cáo Vũ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |
Bản án số 04/2026/HS-PT ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 04/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ, ngày 21/5/2025, tại số nhà B Cầu T đường Đ, phường V, quận N (nay là phường N), thành phố Hải Phòng, Vũ Thị T, Nguyễn Thị Ngọc B1, Phạm Thị L1 và Nguyễn Trí T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài “ù” mục đích được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 16.000.000 đồng.
