TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------ |
Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 05 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Dung, bà Bùi Thị Đào, bà Quàng Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Giàng A P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 16/3/2002 tại huyện S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La (nay là bản N, xã M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Giàng A C, sinh năm 1977 và bà Mùa Thị S, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2025 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
Ông Hờ A C1 - Luật sư Công ty L1. Địa chỉ: L Khu đô thị H, xã H, TP Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ ngày 13/6/2025, Tổ công tác Đoàn Đặc nhiệm phòng chống ma tuý và tội phạm Miền B - Bộ đội Biên phòng phối hợp với lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại bản Khá, xã M, huyện S, phát hiện bắt quả tang Giàng A P, sinh năm 2002, trú tại bản Nậm Lạn, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La về hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bánh hình chữ nhật kích thước 15,5 cm x 10,5 cm x 2,5 cm được bọc nhiều lớp giấy, nilon, bên trong có bột màu trắng nghi là Heroine; 03 gói nilon bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu nghi là thuốc phiện (Giàng A P khai là ma túy đang vận chuyển thuê để lấy tiền công); 01 điện thoại di động và 01 xe mô tô biển kiểm soát 26F1-166.33.
Ngày 14/6/2025, Đ Đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm miền B - Bộ đội Biên phòng thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả cân tịnh: 01 (một) bánh hình chữ nhật có khối lượng 336,78 gam; 03 gói chất nhựa dẻo màu nâu có khối lượng 434,36 gam; trích mẫu giám định, đánh ký hiệu từ P1 đến P4.
Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 15/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu P1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 3,00 gam.
Các mẫu ký hiệu P2, P3, P4 gửi giám định là ma túy, loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); khối lượng của các mẫu gửi giám định là: P2 = 13,11 gam; P3 = 13,40 gam; P4 = 13,65 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 336,78 gam loại Heroine và 434,36 gam loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện)”.
Quá trình điều tra, Giàng A P khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Ngày 10/6/2025, Giàng A P đi từ nhà ở của mình ra khu vực thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La chơi thì gặp và quen một thanh niên tự giới thiệu tên là L. Qua nói chuyện, Lệnh thuê Giàng A P vận chuyển ma tuý từ khu vực biên giới thuộc bản P, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La ra thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La giao cho L, Lệnh sẽ trả tiền công, P đồng ý.
Khoảng 09 giờ ngày 13/6/2025, Giàng A P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26F-166.33 lên đoạn đường biên giới thuộc địa phận bản P, xã M, huyện S gặp một người đàn ông quốc tịch Lào (không rõ họ tên, địa chỉ). Người đàn ông đó đưa cho Giàng A P một túi nilon màu hồng bên trong có chứa 01 (một) bánh ma túy loại Heroine; 03 (ba) cục N rồi bảo Giàng A P mang ra khu vực huyện S giao cho một người đàn ông tên L, khoảng 23 tuổi (không rõ địa chỉ), sau đó sẽ nhận 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền công từ Lệnh. Po nhận số ma túy trên rồi mang về cất giấu ở nương sắn thuộc bản C, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La, sau đó về nhà ăn cơm. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, P quay lại chỗ giấu ma túy để lấy ma túy cất vào trong cốp xe rồi mang đi ra huyện S giao cho L. Khi đến khu vực bản K, xã M thì bị bắt giữ, cụ thể:
Vào hồi 17h00 phút ngày 13/6/2025 tại bản Khá, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Đoàn Đặc nhiệm phòng chống ma tuý và tội phạm miền B - Bộ đội Biên phòng chủ trì, phối hợp với Phòng PC04 Công an tỉnh S, Đồn Biên phòng N1, Công an xã M làm nhiệm vụ phòng chống tội phạm phát hiện thấy một người đàn ông đang điều khiển một chiếc xe mô tô đi từ hướng biên giới vào nội địa có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Người đàn ông khai báo họ tên là Giàng A P, qua quá trình kiểm tra người và phương tiện do P điều khiển, tổ công tác phát hiện bên trong cốp xe do Giàng A P điều khiển có 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa 01 bánh hình hộp chữ nhật kích thước 15,5cm x 10,5cm x 2,5cm, bên ngoài bánh hình hộp chữ nhật bọc một lớp nilon màu trắng, tiếp đến bên trong là ba lớp nilon màu trắng, bên trong cùng chứa chất bột liên kết màu trắng (nghi là Heroine); 03 vật thể nilon màu trắng, bên trong các vật thể chứa chất dẻo màu nâu (nghi là nhựa thuốc phiện). P khai nhận, chất bột liên kết màu trắng có trong bánh hình hộp chữ nhật là H1 và 03 vật thể nilon màu trắng, bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu là nhựa thuốc phiện do P nhận vận chuyển thuê để kiếm lời.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 01/CT-VKS-P1 ngày 07/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Giàng A P về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý quy định tại điểm h khoản 4 điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo Giàng A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu; bị cáo không khai nhận gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A P 20 (Hai mươi) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau khi đã trích lấy mẫu gửi giám định.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô loại Winner X, biển kiểm soát 26F1-166.33.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0878.650.xxx.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
- Quan điểm của Luật sư Đàm Mạnh H thực hiện trợ giúp pháp lý, bào chữa cho bị cáo Giàng A P: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết tang nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; kính mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt (20 năm tù); không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
- Quan điểm của Luật sư Hờ A C1 bào chữa cho bị cáo Giàng A P: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và lời bào chữa của Luật sư đồng nghiệp. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn” và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
- Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của các vị Luật sư bào chữa cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 13/6/2025, Giàng A P đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 345,46 gam ma túy (gồm 336,78 gam Heroine và 434,36 gam nhựa thuốc phiện được quy đổi bằng 8,68 gam Heroine) từ khu vực biên giới thuộc bản Pá Kạch, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La đến khu vực công viên thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La giao cho một người đàn ông tên L để nhận tiền công 10.000.000 đồng thì bị Tổ công tác Bộ đội Biên phòng đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17h10 phút ngày 13/6/2025 tại bản Khá, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La đối với Giàng A P cùng vật chứng thu giữ.
Biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng do Đ Đặc nhiệm phòng chống ma tuý và tội phạm Miền B - Bộ đội Biên phòng lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 14/6/2025. Kết quả cân tịnh: 01 bánh hình chữ nhật có khối lượng 336,78 gam; 03 gói chất nhựa dẻo màu nâu có khối lượng 434,36 gam; trích mẫu giám định, đánh ký hiệu từ P1 đến P4.
Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 15/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu P1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 3,00 gam.
Các mẫu ký hiệu P2, P3, P4 gửi giám định là ma túy, loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); khối lượng của các mẫu gửi giám định là: P2 = 13,11 gam; P3 = 13,40 gam; P4 = 13,65 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 336,78 gam loại Heroine và 434,36 gam loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện)”.
Lời khai nhận tội của bị cáo Giàng A P tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc tổ công tác bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng A P cùng vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A P đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự.
[3] Về khung hình phạt áp dụng:
Bị cáo Giàng A P đã có hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng 345,46 gam, loại Heroine (gồm 336,78 gam Heroine và 434,36 gam nhựa thuốc phiện được quy đổi bằng 8,68 gam Heroine). Hành vi của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung “Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015; thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Tại thời điểm bị cáo Giàng A P thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy đang được điểu chỉnh bởi Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/2025 thay đổi về khối lượng ma túy và hình phạt áp dụng; điểm b khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội quy định: “Trường hợp quy định của Bộ luật hình sự mới có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội trước thời điểm luật có hiệu lực nhưng bị phát hiện, xử lý sau đó, thì áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội”. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét, xử lý đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo là nhân dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng biên giới, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Không có căn cứ áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Giàng A P như đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Giàng A P thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn và các loại tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương trong công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
[6] Về hình phạt bổ sung.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo không có tài sản lớn có giá trị và không có khả năng thi hành nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc ma tuý và đối tượng liên quan trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, Giàng A P khai nhận là của một người đàn ông quốc tịch Lào (không biết họ tên, địa chỉ nơi cư trú), đưa cho bị cáo để bị cáo vận chuyển cho người khác. Ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.
Đối với người đàn ông tên L thuê bị cáo vận chuyển trái phép chất ma tuý, bị cáo không biết họ tên đệm, địa chỉ nơi cư trú, nên không có căn cứ để xác minh. Ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.
[8] Về Xử lý vật chứng:
Đối với 333,78 gam Heroine và 394,20 gam (nhựa thuốc phiện) còn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 hộp vật chứng niêm phong cùng các mảnh nilon, giấy sáp, vật chứng ban đầu. Xét thấy, ma tuý là loại Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng khác không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn xanh, đen, biển kiểm soát 26F1-166.33, xe đã qua sử dụng, cũ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô đăng ký tên chủ sở hữu Giàng A P, bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0878.650.xxx. Quá trình điều tra xác định bị cáo không dung vào việc thực hiện tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Giàng A P 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp vật chứng nguyên niêm phong. Trên một mặt hộp có ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Giàng A P, sinh năm 2002, nơi cư trú: bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi: Vận chuyển trái phép chất ma túy. Gồm: 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu G1 - 333,78 gam, nghi là Heroine; 03 túi nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu từ G2 đến G4, có tổng khối lượng 394,20 gam, nghi là nhựa thuốc phiện; 01 túi nilon màu hồng; 04 mảnh nilon màu trắng; 01 lớp giấy sáp màu vàng; 01 mảnh nilon màu vàng; 02 mảnh giấy niêm phong ban đầu đã bóc”.
2.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn xanh, đen, biển kiểm soát 26F1-166.33, số khung: RLHKC3703MY118302, số máy: KC34E1269664, xe đã qua sử dụng, cũ. Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra máy móc, thiết bị bên trong và tình trạng hoạt động của xe.
2.3. Trả lại cho bị cáo Giàng A P: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim Vinaphone số thuê bao 0878.650.xxx. Vật chứng đã được niêm phong theo quy định.
(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 20 phút ngày 08 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A P.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/11/2025)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vận chuyển trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 01/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giàng A P vận chuyển trái phép chất ma tuý
