Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:...../2025/HSST

Ngày: 21/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hải.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Thẩm Văn Minh và ông Nguyễn Đức Thiệu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Liên Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Nguyễn Văn Q
  2. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1977 tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Chức vụ đảng, đoàn thể: Không;

    Con ông Nguyễn Đình P và bà Nguyễn Thị H. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và 02 người con.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Nhân thân:

    Tại bản án số 75/2015/HS-ST ngày 30/12/2015, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ) xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, về tội Đánh bạc, phạt bổ sung 4.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành hình phạt chính, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào tháng 01/2018, đã được xóa án tích.

    Tại bản án số 22/2020/HS-ST ngày 15/7/2020, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ) xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13 tháng 6 năm 2021, đã chấp hành xong án phí, đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Bị cáo đang tại ngoại tại khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

  3. Họ tên: Nguyễn Thanh B
  4. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1984 tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ đảng, đoàn thể: Không;

    Con ông Nguyễn Đình B1 (đã chết) và bà Vũ Thị C. Bị cáo có vợ Nguyễn Thị T1 và 04 người con.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Nhân thân:

    Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 29/9/2023, Nguyễn Thanh B bị Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh sâm. B đã nộp phạt vi phạm hành chính xong ngày 10 tháng 10 năm 2023, đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Bị cáo đang tại ngoại tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

  5. Họ tên: Nguyễn Quốc H1
  6. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 07 tháng 9 năm 1995 tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ đảng, đoàn thể: Không;

    Con ông Nguyễn Xuân H2 và bà Trần Thị B2. Bị cáo có vợ là Bùi Thị Minh N và 02 người con.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Bị cáo đang tại ngoại tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

  7. Họ tên: Nguyễn Văn T2
  8. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 22 tháng 02 năm 1986 tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ đảng, đoàn thể: Không;

    Con ông Nguyễn Bá L và bà Phạm Thị H3. Bị cáo có vợ là Trương Thị H4 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Bị cáo đang tại ngoại tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Đình K, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/7/2025, tại nhà ông Phạm Đình K, thuộc khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, có ông Phạm Đình K, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn Q và anh Đỗ Văn T3 ngồi ăn cơm uống rượu tại gian giữa nhà ông K. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm uống rượu xong thì ông K say rượu đứng dậy vào phòng đi ngủ. Lúc này H1, B, Q, T2 cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Tất cả đều không nhớ ai là người rủ rê, khởi xướng đánh bạc. H1 là người lấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long, dùng kéo bằng kim loại có sẵn để tại mâm cơm cắt vỏ bao thuốc lá thành 04 quân bài hình tròn (quân vị) và lấy 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng có sẵn tại mâm cơm rồi cùng Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn Q đánh bạc với nhau. Nguyễn Quốc H1 là người cầm cái, xóc đĩa ván đầu tiên. Khi đánh bạc, các đối tượng ngồi thành vòng tròn trên chiếu nhựa trải sẵn giữa nhà ông K từ khi ăn cơm.

Quá trình đánh bạc, anh T3 chỉ ngồi uống rượu một mình và xem các đối tượng trên đánh bạc, mà không tham gia. Các đối tượng không phải nộp tiền hồ (tiền thuê địa điểm đánh bạc) cho ai.

Hình thức đánh bạc “xóc đĩa” sát phạt nhau bằng tiền cụ thể như sau: Người cầm cái cho 04 quân vị hình tròn cắt từ vỏ bao thuốc lá Thăng L1 vào bộ B3 sứ rồi xóc. Sau đó, những người đánh bạc đặt tiền cá cược vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Khi người chơi đặt cửa xong, người cầm cái sẽ mở bát để xem kết quả. Nếu kết quả là 02 cặp quân vị có màu giống nhau hoặc cả 4 quân vị có màu giống nhau thì người đặt cửa chẵn thắng, người đặt cửa lẻ thua. Nếu kết quả là 03 quân vị cùng màu, quân còn lại khác màu thì người đặt cửa lẻ thắng, người đặt cửa chẵn thua. Người cầm cái sẽ thu tiền đã đặt cửa của người thua bạc và trả cho người thắng bạc số tiền tương ứng với số tiền mà người thắng đã đặt cửa. Nếu sau khi trả tiền mà còn dư thì người cầm cái sẽ hưởng số tiền dư này. Nếu thiếu tiền để trả cho người thắng bạc thì người cầm cái phải lấy tiền của mình để trả cho người thắng.

Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Quốc H1 có 3.500.000đồng, Nguyễn Văn T2 có 1.500.000đồng, Nguyễn Thanh B có 1.650.000đồng, Nguyễn Văn Q có 500.000đồng và đều sử dụng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền đánh bạc là 7.150.000đồng.

Các bị cáo đánh bạc liên tục đến 12 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công xã T, tỉnh Phú Thọ kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc gồm: 01 (Một) chiếu nhựa màu xanh có họa tiết nhiều màu, đã qua sử dụng; 01 (Một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) bát sứ màu trắng, đã qua sử dụng; 04 (Bốn) quân bài (quân vị) hình tròn một mặt màu trắng, một mặt màu vàng; 01(Một) kéo kim loại, đã qua sử dụng; Tiền ngân hàng N1 đang lưu hành: 7.150.000 đồng (Bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Ngoài ra không thu giữ gì thêm.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSCK ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn T2 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Tuyên bố các bị Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Quốc H1 và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo từ 5% đến 10% thu nhập/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Quốc H1 từ 35.000.000đồng - 40.000.000đồng; Xử phạt Nguyễn Văn T2 từ 30.000.000đồng - 35.000.000đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H1 bị cáo T2.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếu nhựa màu xanh có họa tiết nhiều màu, đã qua sử dụng; 01 (Một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) bát sứ miệng và đáy hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 04 (Bốn) quân bài (quân vị) hình tròn một mặt màu trắng, một mặt màu vàng; 01(Một) kéo kim loại

(Theo biên bản giao, nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Phú Thọ ngày 17/10/2025).

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 7.150.000 đồng (Bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát khu vực 6- Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 45 phút ngày 22/7/2025, tại gian giữa nhà ở của ông Phạm Đình K thuộc khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Thanh B, và Nguyễn Văn T2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền. Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.150.000đ (Bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Thanh B, và Nguyễn Văn T2, phạm tội “Đánh bạc” như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

“Điều 321. Tội đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi đánh bạc của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng đến cuộc sống lành mạnh trong khu dân cư, dư luận xã hội bất bình, lên án. Hành vi phạm tội của các bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, và cần phải xử lý tương ứng với hành vi mà các bị cáo gây ra.

3.2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về nhân thân:

Các bị cáo Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn T2 có nhân thân tốt.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh B: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 29/9/2023, Nguyễn Thanh B bị Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh sâm. B đã nộp phạt vi phạm hành chính xong ngày 10 tháng 10 năm 2023, đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q:

+ Tại bản án số 75/2015/HS-ST ngày 30/12/2015, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê – Phú Thọ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ) xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, về tội Đánh bạc và phạt bổ sung 4.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Bị cáo đã chấp hành hình phạt chính, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào tháng 01/2018, đã được xóa án tích.

+ Tại bản án số 22/2020/HS-ST ngày 15/7/2020, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê – Phú Thọ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ) xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13 tháng 6 năm 2021, và đã chấp hành xong án phí, bị cáo đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn T2 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Thanh B đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải, các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải. Trước đó bị cáo đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, nên căn cứ điểm a khoản 9 điều 2 Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị cáo được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt chính:

Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, cả 04 bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Cần có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh với các tội phạm xâm phạm trật tự công cộng nói chung.

Bị cáo Nguyễn Quốc H1 và Nguyễn Văn T2 đều có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần đầu do vậy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo H1 và bị cáo T2 là phù hợp. Tuy nhiên, khi đánh bạc bị cáo H1 sử dụng số tiền 3.500.000đồng đồng thời là người trực tiếp chuẩn bị công cụ đánh bạc, bị cáo T2 sử dụng số tiền 1.500.000đồng, do vậy cần cá thể hoá trách nhiệm hình sự của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Thanh B sử dụng 1.650.000đ vào việc đánh bạc, mặc dù ít hơn bị cáo H1 nhưng bị cáo B đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo H1 và bị cáo T2 để đảm bảo tính giáo dục, răn đe, nhưng thấy rằng không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Quá trình xác minh tại địa phương, xác định bị cáo B là lao động tự do, có thu nhập hàng tháng là 5.000.000 đồng, nên cần khấu trừ thu nhập đối với bị cáo 5% thu nhập/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với Nguyễn Văn Q, bị cáo đã 02 lần bị xét xử về hành vi đánh bạc, nhưng không lấy đó làm bài học, mà lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên lần phạm tội này, bị cáo chỉ sử dụng số tiền 500.000đ vào việc đánh bạc, thấp nhất trong các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng với bị cáo hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. HĐXX thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, như vậy mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét thấy, đối với bị cáo H1 và bị cáo T2 đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Đối với bị cáo Q và bị cáo H1, các bị cáo không có tài sản riêng, nghề nghiệp lao động tự do, có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[6]. Đối với ông Phạm Đình K, sinh năm 1964, ở Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình các bị cáo đánh bạc tại gian giữa nhà ông K, ông K không biết sự việc, không thu tiền hồ, không được hưởng lợi gì từ việc các đối tượng đánh bạc nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1974, ở khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ, anh T3 không đánh bạc mà chỉ ngồi uống rượu một mình và xem các đối tượng trên đánh bạc nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (Một) chiếu nhựa màu xanh có họa tiết nhiều màu, đã qua sử dụng; 01 (Một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) bát sứ miệng và đáy hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01(Một) kéo kim loại, đã qua sử dụng (đây là những tài sản của ông Phạm Đình K, nhưng ông K trình bày các tài sản trên đã cũ, không có giá trị nên không nhận lại); 04 (Bốn) quân bài (quân vị) hình tròn một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là những công cụ sử dụng vào việc đánh bạc. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy các vật chứng trên không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

(Theo biên bản giao, nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Phú Thọ ngày 17/10/2025).

- Đối với số tiền: 7.150.000 đồng (Bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo và việc xử lý vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo: Nguyễn Văn Q.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo: Nguyễn Thanh B.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo: Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn T2.

  1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
    2. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Q cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q.

    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ (từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025) được quy đổi bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo B còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
    4. Giao bị cáo B cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành hình sự.

      Trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ, khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo B là 05%/tổng thu nhập 5.000.000 đồng, bằng số tiền là 250.000 đồng/tháng, để nộp vào ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ được thực hiện hằng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.

      Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, theo đúng quy định tại Khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

      Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

      Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B.

    5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1: 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng)
    6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2: 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếu nhựa màu xanh có họa tiết nhiều màu, đã qua sử dụng; 01 (Một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) bát sứ miệng và đáy hình tròn, màu trắng, đã qua sử dụng; 04 (Bốn) quân bài (quân vị) hình tròn một mặt màu trắng, một mặt màu vàng; 01(Một) kéo kim loại.

      (Theo biên bản giao, nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Phú Thọ ngày 17/10/2025).

    • Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 7.150.000 đồng (Bảy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Q, B, H1, T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - THAHS công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hải

10

Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ .....phút ngày 29 tháng 11 năm 2023. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Tiến Nghị

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số ...../2025/HSST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: ...../2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger