Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BYT năm 2019 do Bộ Y tế ban hành là văn bản hợp nhất các quy định của Nghị định về xác định lại giới tính (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giải quyết quyền được sống đúng với giới tính của cá nhân có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác tại Việt Nam.
Thông tin chung về văn bản hợp nhất
- Tên văn bản: Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BYT năm 2019 hợp nhất Nghị định về xác định lại giới tính.
- Cơ quan ban hành hợp nhất: Bộ Y tế (do Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến ký xác thực).
- Văn bản bị sửa đổi, bổ sung tích hợp: Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1 - Điều 2)
Văn bản quy định chi tiết về việc xác định lại giới tính đối với những trường hợp cụ thể và xác định rõ đối tượng áp dụng như sau:
- Phạm vi điều chỉnh: Chỉ áp dụng đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc người có giới tính chưa được định hình chính xác.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
- Khuyết tật bẩm sinh về giới tính: Được định nghĩa là những bất thường ở bộ phận sinh dục ngay từ khi sinh ra, biểu hiện dưới các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật.
- Giới tính chưa được định hình chính xác: Là trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét trên cả phương diện bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính.
- Gen biệt hóa tinh hoàn: Là gen mã hóa yếu tố xác định tinh hoàn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể Y. Kết quả xét nghiệm dương tính là yếu tố quyết định sự phát triển, hình thành tinh hoàn ở nam giới.
Nguyên tắc thực hiện và các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 3 - Điều 4)
Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thông qua các nguyên tắc và chế tài nghiêm ngặt:
- Nguyên tắc xác định lại giới tính:
- Bảo đảm quyền của mỗi cá nhân được sống đúng với giới tính thực tế của mình.
- Thực hiện hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Giữ bí mật tuyệt đối mọi thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính. Thông tin chỉ được cung cấp khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử.
- Các hành vi bị nghiêm cấm tuyệt đối:
- Nghiêm cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính (phân biệt rõ giữa "xác định lại giới tính" do khuyết tật/chưa định hình và "chuyển đổi giới tính" ở người bình thường).
- Nghiêm cấm can thiệp y tế để xác định lại giới tính khi chưa được sự cho phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp tỉnh.
- Nghiêm cấm hành vi tiết lộ thông tin cá nhân về việc xác định lại giới tính của người khác.
- Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người đã thực hiện xác định lại giới tính.
Tiêu chuẩn y tế xác định tình trạng giới tính (Điều 5 - Điều 6)
Văn bản đưa ra các tiêu chuẩn y khoa cụ thể để nhận diện các trường hợp được phép can thiệp:
- Nam lưỡng giới giả nữ: Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy hoặc không sờ thấy tinh hoàn; kết quả siêu âm hoặc nội soi xác định có tinh hoàn nhưng không có tử cung và buồng trứng; nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính (hoặc cả hai).
- Nữ lưỡng giới giả nam: Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển mạnh như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn; kết quả siêu âm hoặc nội soi xác định có tử cung, buồng trứng và không có tinh hoàn; nhiễm sắc thể giới tính là XX.
- Lưỡng giới thật: Bộ phận sinh dục không thể xác định rõ ràng là nam hay nữ; tuyến sinh dục tồn tại song song cả tổ chức tinh hoàn và buồng trứng; nhiễm sắc thể giới tính thuộc các dạng như XX/XY, XXX/XY, XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể lưỡng giới khác.
- Giới tính chưa được định hình chính xác: Nhiễm sắc thể giới tính có thể tương tự các trường hợp lưỡng giới nêu trên nhưng bộ phận sinh dục hoàn toàn chưa được biệt hóa, không thể phân định chính xác nam hay nữ.
Điều kiện cơ sở y tế và quy trình can thiệp y tế (Điều 8 - Điều 10)
Việc can thiệp y tế để xác định lại giới tính là một quá trình phức tạp, đòi hỏi các điều kiện nghiêm ngặt về chuyên môn:
- Điều kiện đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (đã được sửa đổi bởi Nghị định 155/2018/NĐ-CP):
- Phải là bệnh viện công lập đa khoa, hoặc bệnh viện chuyên khoa ngoại, sản, nhi thuộc tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương; hoặc là bệnh viện tư nhân có thiết lập khoa ngoại và khoa sản hoặc khoa nhi.
- Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phạm vi hoạt động chuyên môn cụ thể về can thiệp y tế để xác định lại giới tính.
- Quy trình khám lâm sàng và cận lâm sàng:
- Khám lâm sàng: Đánh giá ngoại hình, kiểm tra chi tiết bộ phận sinh dục ngoài và trong, thực hiện các trắc nghiệm tâm lý giới tính chuyên sâu.
- Khám cận lâm sàng: Thực hiện siêu âm, nội soi, chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI); xét nghiệm định lượng nội tiết tố; xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính; thực hiện sinh thiết để xác định chính xác cấu trúc tuyến sinh dục (tinh hoàn hay buồng trứng).
- Hội chẩn và quyết định điều trị:
- Sau khi có đầy đủ kết quả lâm sàng và cận lâm sàng, cơ sở y tế bắt buộc phải tổ chức hội chẩn liên chuyên khoa để đưa ra chỉ định điều trị phù hợp.
- Lựa chọn giới tính điều trị dựa trên đề nghị của người bệnh, hướng tới việc giúp họ hòa nhập tốt nhất về tâm lý, sinh lý và đời sống xã hội.
- Cơ sở y tế quyết định độ tuổi phẫu thuật thích hợp, ưu tiên thực hiện ở lứa tuổi sớm nhất có thể.
- Thực hiện phẫu thuật tạo hình kết hợp với điều trị nội tiết tố (hormone) sau phẫu thuật.
- Chứng nhận y tế sau can thiệp: Sau khi hoàn thành can thiệp y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận y tế xác định lại giới tính cho người bệnh theo mẫu quy định.
Căn cứ và thủ tục đăng ký hộ tịch sau khi xác định lại giới tính (Điều 11 - Điều 14)
Sau khi có kết quả can thiệp y tế, việc thay đổi thông tin hộ tịch được thực hiện theo quy định pháp luật:
- Căn cứ pháp lý: Giấy chứng nhận y tế do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền cấp là căn cứ pháp lý duy nhất để cơ quan nhà nước thực hiện đăng ký thay đổi hộ tịch cho người đã xác định lại giới tính.
- Trường hợp đặc biệt (Điều 12): Đối với người đã thực hiện xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện tại Việt Nam trước ngày Nghị định có hiệu lực:
- Nếu muốn đăng ký lại hộ tịch, phải có giấy xác nhận từ cơ sở y tế đã can thiệp trước đó.
- Phải đến các cơ sở y tế đủ điều kiện quy định tại Điều 8 để thực hiện khám kiểm tra lại và được cấp Giấy chứng nhận y tế mới theo quy định hiện hành.
- Thẩm quyền giải quyết: Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người đó đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết việc đăng ký thay đổi hộ tịch.
- Thủ tục thực hiện: Thẩm quyền và trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi hộ tịch được thực hiện nghiêm ngặt theo các quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch hiện hành.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm của các cơ quan (Chương V)
- Hiệu lực thi hành: Nghị định gốc có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các điều khoản sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 155/2018/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018.
- Trách nhiệm của Bộ Y tế: Ban hành các quy định chi tiết về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở y tế được phép can thiệp; ban hành mẫu đơn đề nghị và mẫu Giấy chứng nhận y tế xác định lại giới tính.
- Trách nhiệm của Bộ Tư pháp: Chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã xác định lại giới tính.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 01/VBHN-BYT | Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 2019 |
Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về xác định lại giới tính, có hiệu lực kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2008, được đổi, bổ sung bởi:
Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Điều 36 Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,1
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Nghị định này quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác.
2. Nghị định này áp dụng với các tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật;
2. Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính;
3. Gen biệt hoá tinh hoàn là gen mã hoá yếu tố xác định tinh hoàn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể Y mà nếu xét nghiệm cho kết quả dương tính thì đó chính là yếu tố của sự phát triển, hình thành tinh hoàn có biểu hiện cho nam giới.
Điều 3. Nguyên tắc xác định lại giới tính
1. Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình.
2. Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính.
3. Giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính.
1. Thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính.
2. Thực hiện việc xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.
3. Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác.
4. Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính.
TIÊU CHUẨN Y TẾ ĐỂ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
Điều 5. Tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính
1. Nam lưỡng giới giả nữ:
a) Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng;
b) Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên.
2. Nữ lưỡng giới giả nam:
a) Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn;
b) Nhiễm sắc thể giới tính là XX.
3. Lưỡng giới thật:
a) Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng;
b) Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; XXX/XY; XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật.
Điều 6. Tiêu chuẩn y tế xác định giới tính chưa được định hình chính xác
Nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hoá hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ.
QUY TRÌNH CAN THIỆP Y TẾ ĐỂ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
Điều 8. Điều kiện đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính3
Bệnh viện được thực hiện can thiệp y tế để xác định lại giới tính khi đáp ứng các điều kiện sau:
1. Là bệnh viện công lập đa khoa, chuyên khoa ngoại, sản, nhi tuyến tỉnh, tuyến trung ương hoặc bệnh viện tư nhân có khoa ngoại và khoa sản hoặc khoa nhi.
2. Được cấp có thẩm quyền phê duyệt phạm vi hoạt động chuyên môn về can thiệp y tế để xác định lại giới tính.
Điều 9. Khám lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị để xác định lại giới tính
1. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức việc khám lâm sàng, cận lâm sàng để xác định lại giới tính:
a) Khám lâm sàng:
- Ngoại hình;
- Bộ phận sinh dục ngoài và trong;
- Các trắc nghiệm về tâm lý giới tính.
b) Khám cận lâm sàng:
Tùy theo từng trường hợp cụ thể, các cán bộ chuyên môn có thể chỉ định các phương pháp khám cận lâm sàng sau:
- Siêu âm, nội soi, chụp X quang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ;
- Xét nghiệm nội tiết tố;
- Xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính;
- Sinh thiết xác định tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng.
2. Sau khi có kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tổ chức hội chẩn với sự tham gia của các cán bộ chuyên môn để có chỉ định phù hợp trong việc điều trị xác định lại giới tính.
3. Điều trị xác định lại giới tính:
a) Trên cơ sở đề nghị của người xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sẽ lựa chọn giới tính để có phương pháp điều trị thích hợp, bảo đảm nguyên tắc khi ở giới tính đó, người được xác định lại giới tính có thể hòa nhập cuộc sống về tâm, sinh lý và xã hội một cách tốt nhất;
b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định tuổi của người đề nghị xác định lại giới tính để phẫu thuật, bảo đảm ở lứa tuổi sớm nhất;
c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định phẫu thuật và điều trị nội tiết sau phẫu thuật.
Điều 10. Chứng nhận y tế sau khi can thiệp y tế xác định lại giới tính4
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế cho cho người đã được xác định lại giới tính theo mẫu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH SAU KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
Điều 11. Căn cứ để đăng ký hộ tịch sau khi đã xác định lại giới tính
Giấy chứng nhận y tế quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định này là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính.
Các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trước đó và đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 8 Nghị định này để được khám kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế.
Điều 13. Trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Điều 14. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính
Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 16. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành quy định điều kiện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính, mẫu đơn đề nghị xác định lại giới tính, mẫu Giấy chứng nhận y tế đã xác định lại giới tính;
2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
| XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT KT. BỘ TRƯỞNG |
1 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước Bộ Y tế.”
2 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018
3 Điều này được sửa đổi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018
4 Điều này được sửa đổi theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018
5 Điều 20, Điều 22 của Nghị định số 155/2018/NĐ-CP, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2018 quy định như sau:
“Điều 20. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành.
Điều 22. Trách nhiệm thi hành
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.”
Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BYT năm 2019 hợp nhất Nghị định về xác định lại giới tính do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 01/VBHN-BYT
- Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
- Ngày ban hành: 30/01/2019
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Nguyễn Viết Tiến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/01/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
