Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12344:2019 (hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO/TS 18530:2014) về Tin học y tế - Gán, làm nhãn phân định và thu nhận dữ liệu tự động - Phân định nhân viên y tế và bệnh nhân được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, nhằm thiết lập các nguyên tắc và yêu cầu kỹ thuật thống nhất trong việc định danh và thu nhận dữ liệu tự động trong môi trường chăm sóc sức khỏe. Tiêu chuẩn này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số ngành y tế, hạn chế tối đa các sai sót y khoa và nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
Phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh
- Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu đối với việc gán mã định danh duy nhất, thiết kế nhãn phân định và ứng dụng công nghệ thu nhận dữ liệu tự động (AIDC) đối với nhân viên y tế và bệnh nhân. Quy trình này hỗ trợ việc đối chiếu thông tin chính xác tại các điểm chăm sóc y tế.
- Đối tượng áp dụng: Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (bệnh viện, phòng khám); các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế; các doanh nghiệp phát triển phần mềm và giải pháp công nghệ thông tin y tế; các nhà sản xuất thiết bị y tế và vật tư làm nhãn định danh.
Nguyên tắc chung về phân định và thu nhận dữ liệu tự động (AIDC)
- Tính duy nhất: Mỗi nhân viên y tế và mỗi bệnh nhân chỉ được cấp một mã định danh duy nhất, không trùng lặp trong phạm vi hệ thống quản lý y tế quốc gia hoặc nội bộ cơ sở y tế.
- Khả năng tương thích: Cấu trúc mã định danh và công nghệ thu nhận dữ liệu phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế (như hệ thống tiêu chuẩn GS1 hoặc các tiêu chuẩn định danh y tế tương đương) để đảm bảo khả năng liên thông dữ liệu giữa các khoa phòng và giữa các cơ sở y tế khác nhau.
- Tính bảo mật và riêng tư: Quá trình gán mã và quét dữ liệu tự động phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ bí mật thông tin cá nhân và hồ sơ bệnh án của người bệnh.
Quy định về phân định nhân viên y tế
- Mục đích định danh: Xác định chính xác danh tính của nhân viên y tế tham gia vào quy trình điều trị, cấp phát thuốc, thực hiện thủ thuật hoặc cập nhật hồ sơ bệnh án điện tử, từ đó nâng cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát an ninh thông tin.
- Phương thức gán mã: Mã định danh nhân viên y tế được tích hợp vào thẻ nhân viên, thẻ hành nghề hoặc các thiết bị định danh cá nhân khác dưới dạng mã vạch (1D, 2D) hoặc chip nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID).
- Yêu cầu thông tin: Mã định danh phải liên kết trực tiếp với cơ sở dữ liệu nhân sự y tế, bao gồm các thông tin về họ tên, chức danh chuyên môn, phạm vi hoạt động chuyên môn và quyền truy cập hệ thống thông tin bệnh viện.
Quy định về phân định bệnh nhân (người được chăm sóc)
- Thời điểm gán mã: Bệnh nhân phải được cấp mã định danh duy nhất ngay tại thời điểm tiếp nhận ban đầu vào cơ sở y tế. Mã này sẽ đi theo bệnh nhân suốt quá trình thăm khám, điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
- Hình thức thể hiện nhãn phân định: Sử dụng vòng đeo tay định danh (đối với bệnh nhân nội trú) hoặc thẻ bệnh nhân (đối với bệnh nhân ngoại trú). Nhãn phân định bắt buộc phải chứa cả thông tin có thể đọc bằng mắt thường (họ tên, ngày sinh, mã số bệnh nhân) và thông tin mã hóa đọc bằng máy (mã vạch 2D DataMatrix, QR Code hoặc RFID).
- Quy trình đối chiếu tại điểm chăm sóc: Trước khi thực hiện bất kỳ y lệnh nào (như tiêm thuốc, truyền dịch, phẫu thuật, lấy mẫu xét nghiệm), nhân viên y tế bắt buộc phải thực hiện quét mã định danh trên vòng đeo tay của bệnh nhân đồng thời với việc quét mã định danh của chính mình và mã định danh của y lệnh/thuốc để đảm bảo nguyên tắc đối chiếu chính xác.
Yêu cầu kỹ thuật đối với nhãn phân định và thiết bị thu nhận dữ liệu
- Chất lượng và độ bền của nhãn: Vật liệu làm vòng đeo tay hoặc nhãn định danh phải có khả năng chống nước, chống dung môi sát trùng, không gây kích ứng da và giữ được độ sắc nét của mã vạch trong suốt thời gian điều trị của bệnh nhân.
- Tiêu chuẩn mã hóa dữ liệu: Khuyến khích sử dụng các định dạng mã hóa tiêu chuẩn toàn cầu để đảm bảo các thiết bị quét (máy quét mã vạch, thiết bị di động chuyên dụng) có thể đọc dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác tuyệt đối, hạn chế tối đa tỷ lệ lỗi đọc.
- Khả năng dự phòng: Trong trường hợp hệ thống thu nhận dữ liệu tự động gặp sự cố kỹ thuật, nhãn phân định vẫn phải đảm bảo hiển thị đầy đủ thông tin cơ bản bằng chữ và số để nhân viên y tế đối chiếu thủ công.
Hiệu lực thi hành và định hướng áp dụng
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12344:2019 có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các cơ sở y tế trên toàn quốc được khuyến khích từng bước xây dựng lộ trình nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, trang bị thiết bị quét mã và chuẩn hóa quy trình cấp phát nhãn định danh theo tiêu chuẩn này nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng bệnh viện thông minh, bệnh án điện tử không giấy tờ và bảo đảm an toàn tối đa cho người bệnh.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
ISO/TS 18530:2014
Health Informatics - Automatic identification and data capture marking and labelling - Subject of care and individual provider identification
Lời nói đầu
TCVN 12344:2019 hoàn toàn tương đương ISO/TS 18530:2014.
TCVN 12344:2019 do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/JTC1/SC31 Thu thập dữ liệu tự động biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
Việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chủ yếu dựa vào khả năng phân định một cách đơn nhất và chính xác người được chăm sóc, có nghĩa là bệnh nhân (SoC - Subject of Care), cũng như người cung cấp dịch vụ chăm sóc, có nghĩa là nhân viên y tế.
Tin học y tế, nhằm hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, yêu cầu một quy định kỹ thuật rõ ràng để xác định SoC và nhân viên y tế để chúng được kết nối chính xác với thông tin y tế có trong đơn xin chăm sóc y tế. Điều này đã dẫn đến nhu cầu phải nắm bắt và chia sẻ thông tin giữa các hệ thống và các ứng dụng y tế khác nhau.
Các vật mang dữ liệu, chẳng hạn như mã vạch và phân định bằng tần số vô tuyến (Radio Frequency Identification - RFID) thường được gọi là phân định và thu nhận dữ liệu tự động (AIDC) đã mở rộng tầm quan trọng của việc xác định các cấu trúc dữ liệu mã phân định cho SoC và nhân viên y tế để tránh sự mơ hồ khi thông tin được thu thập. AIDC cung cấp nhiều giải pháp, cụ thể, về các vật mang dữ liệu quang học (như mã vạch). Ngoài ra, ngữ nghĩa của dữ liệu được mã hóa sẽ được xác định bởi một số tổ chức (còn có tên là “nhà phát hành”), một vài trong số các tổ chức đó có hoạt động thương mại hay là các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn này tập trung vào việc sử dụng Hệ thống Tiêu chuẩn GS11) vì phần lớn các nguồn cung cấp y tế trên thế giới được phân định phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn đa ngành và toàn cầu GS1. Khả năng tương tác sẽ dễ dàng hơn giúp bảo đảm cho hoạt động của tổ chức y tế khi một hệ thống tiêu chuẩn đơn nhất được sử dụng trong thiết lập y tế.
Khả năng tương tác, khi thông tin được chia sẻ và sử dụng bởi các hệ thống thông tin khác nhau, yêu cầu một ngữ nghĩa phân định chung cho SoC và nhân viên y tế để đảm bảo thông tin được chia sẻ là nhất quán và rõ ràng. Cùng một SoC và nhân viên y tế sẽ được phân định một cách chính xác, được tham chiếu và tham chiếu chéo trong mỗi hệ thống. Các hệ thống thu nhận dữ liệu và chia sẻ thông tin hiệu quả là chìa khóa để cải thiện việc chăm sóc SoC và việc cung cấp dịch vụ bởi nhân viên y tế về mặt dữ liệu phù hợp, chính xác và hợp nhất.
Trong bệnh viện, một SoC thường trải nghiệm nhiều trường hợp chăm sóc. Ví dụ về các trường hợp này bao gồm: kê đơn và cấp thuốc, xét nghiệm mẫu sinh học của SoC trong phòng thí nghiệm, phân tích và báo cáo kết quả. Mỗi trường hợp này đều yêu cầu sự đối chiếu chính xác trường hợp đó và chuyển đến SoC. Nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (nghĩa là tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến SoC) đã giới thiệu các công nghệ AIDC dựa trên mã vạch để giúp thu nhận thông tin nhận dạng SoC, cũng như sự phân định các vật phẩm liên quan khác như mẫu sinh học, sao cho việc nhập mã thủ công có thể được thay thế bằng công nghệ AIDC. Trong môi trường bệnh viện phức tạp có nhiều trường hợp chăm sóc, thường có nhu cầu về sự phân định đơn nhất vì nhờ đó sẽ tránh được sự xung đột, sự trùng nhau, sự không chắc chắn về phân định và rủi ro.
Việc sử dụng AIDC trong bối cảnh chăm sóc bệnh mãn tính khẳng định lại sự cần thiết các tiêu chuẩn. SoC trong trường hợp chăm sóc bệnh mãn tính thường không ở tại cùng một địa điểm cố định, nơi có sẵn một công nghệ nào đó. Vì thế, AIDC có thể được tương tác với nhiều công nghệ, giải pháp và thiết bị. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc chăm sóc được liên tục.
Đối với trường hợp ngoại trú, SoC có thể tự uống thuốc. Đặc biệt là, SoC đang điều trị bệnh mãn tính phải quản trị và ghi lại thuốc của mình theo kế hoạnh điều trị quy định. Kế hoạch điều trị này có thể là rất quy tắc, trên cơ sở cần thiết, hay là phòng n
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9858-1:2013 (ISO 22442-1:2007) về Thiết bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 1: Áp dụng quản lý rủi ro
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9858-3:2013 (ISO 22442-3:2007) về Thiết bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 3: Đánh giá xác nhận việc loại trừ và/hoặc bất hoạt virus và các tác nhân gây bệnh xốp não lấy truyền (TSE)
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN I-5:2017 về Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 5: Vắc xin và sinh phẩm y tế (Gồm 23 tiêu chuẩn)
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13404-5:2021 (ISO 11608-5:2012) về Hệ thống tiêm bằng kim dùng trong y tế - Yêu cầu và phương pháp thử - Phần 5: Các chức năng tự động
- 1Quyết định 3407/QĐ-BKHCN năm 2019 công bố Tiêu chuẩn quốc gia do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8656-1:2010 (ISO/IEC 19762-1:2008) về Công nghệ thông tin - Kĩ thuật phân định và thu nhận dữ liệu tự động (AIDC) - Thuật ngữ hài hòa, Phần 1: Thuật ngữ chung liên quan đến AIDC
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9858-1:2013 (ISO 22442-1:2007) về Thiết bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 1: Áp dụng quản lý rủi ro
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9858-3:2013 (ISO 22442-3:2007) về Thiết bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 3: Đánh giá xác nhận việc loại trừ và/hoặc bất hoạt virus và các tác nhân gây bệnh xốp não lấy truyền (TSE)
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN I-5:2017 về Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 5: Vắc xin và sinh phẩm y tế (Gồm 23 tiêu chuẩn)
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8020:2019 (ISO/IEC 15418:2016) về Công nghệ thông tin - Kỹ thuật phân định và thu nhận dữ liệu tự động - Số phân định ứng dụng GS1 và mã phân định dữ liệu ASC MH10 và việc duy trì
- 7Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13404-5:2021 (ISO 11608-5:2012) về Hệ thống tiêm bằng kim dùng trong y tế - Yêu cầu và phương pháp thử - Phần 5: Các chức năng tự động
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12344:2019 (ISO/TS 18530:2014) về Tin học y tế - Gán, làm nhãn phân định và thu nhận dữ liệu tự động - Phân định nhân viên y tế và bệnh nhân
- Số hiệu: TCVN12344:2019
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/2019
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/09/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
