Tóm tắt Công văn 614/BTP-TCTHADS năm 2015 về hướng dẫn thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án
Công văn 614/BTP-TCTHADS do Bộ Tư pháp ban hành là văn bản nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tế, thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật trong việc thanh toán tiền thi hành án, đặc biệt là cách tính và thứ tự thanh toán đối với khoản tiền lãi chậm thi hành án.
- Nguyên tắc xác định nghĩa vụ và thanh toán tiền lãi chậm thi hành án
Công văn hướng dẫn chi tiết về việc xác định nghĩa vụ tài chính của người phải thi hành án khi có phát sinh khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án:
- Nghĩa vụ trả tiền và tiền lãi chậm thi hành án phải được thực hiện nghiêm túc theo đúng nội dung quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
- Khoản tiền lãi chậm thi hành án được tính trên số dư nợ gốc thực tế và thời gian chậm thi hành án tương ứng, dựa theo mức lãi suất được xác định trong bản án hoặc theo quy định của pháp luật tại thời điểm thi hành án.
- Trường hợp người phải thi hành án có nhiều khoản phải nộp (bao gồm án phí, tiền phạt, tiền bồi thường cho Nhà nước và tiền trả cho người được thi hành án), cơ quan thi hành án phải ưu tiên thanh toán các khoản chi phí thi hành án và các khoản thu cho ngân sách nhà nước trước theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
- Thứ tự khấu trừ tiền gốc và tiền lãi khi người phải thi hành án nộp tiền
Đây là nội dung cốt lõi nhằm giải quyết tranh chấp về việc khoản tiền nộp vào sẽ được ưu tiên trừ vào nợ gốc hay nợ lãi trước:
- Khi người phải thi hành án nộp một khoản tiền nhưng không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ (bao gồm cả nợ gốc và lãi chậm trả), cơ quan thi hành án dân sự ưu tiên thực hiện theo thỏa thuận tự nguyện của các bên đương sự.
- Trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác, cơ quan thi hành án dân sự áp dụng nguyên tắc khấu trừ vào tiền nợ gốc trước. Sau khi trừ nợ gốc, số tiền lãi chậm thi hành án sẽ được tính trên số nợ gốc còn lại chưa thanh toán.
- Việc ưu tiên trừ nợ gốc trước giúp giảm bớt áp lực phát sinh lãi chồng lãi cho người phải thi hành án, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy việc giải quyết dứt điểm phần nghĩa vụ chính của vụ việc.
- Hướng dẫn xử lý vướng mắc về mức lãi suất chậm thi hành án
Công văn đưa ra giải pháp cụ thể đối với các trường hợp bản án tuyên về lãi suất không rõ ràng hoặc có sự thay đổi quy định pháp luật:
- Đối với các bản án chỉ tuyên chung chung là "áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án" mà không ghi rõ con số cụ thể, Chấp hành viên có trách nhiệm chủ động tra cứu, xác định mức lãi suất cơ bản tại từng thời điểm chậm thi hành án để tính toán chính xác số tiền lãi.
- Trường hợp phát sinh tranh chấp gay gắt giữa các đương sự về cách tính lãi hoặc mức lãi suất áp dụng, Chấp hành viên cần tổ chức thỏa thuận, giải thích rõ ràng các quy định pháp luật liên quan. Nếu các bên vẫn không đạt được sự thống nhất, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thủ tục đề nghị Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ nội dung tuyên án để làm căn cứ thực hiện.
- Trách nhiệm tổ chức thực hiện của Chấp hành viên và Cơ quan thi hành án dân sự
Để đảm bảo tính minh bạch, chính xác và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự, Bộ Tư pháp yêu cầu:
- Chấp hành viên được phân công giải quyết vụ việc phải lập bảng tính toán chi tiết, phân định rõ ràng các khoản nợ gốc, nợ lãi tại từng thời điểm người phải thi hành án nộp tiền. Bảng tính này phải được thông báo, tống đạt hợp lệ cho các đương sự để họ thực hiện quyền giám sát và đối chiếu.
- Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện nội dung Công văn này tại các Chi cục trực thuộc, hạn chế tối đa việc phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài liên quan đến việc tính lãi chậm thi hành án.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 614/BTP-TCTHADS | Hà Nội, ngày 03 tháng 3 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thời gian qua, một số cơ quan thi hành án dân sự phản ánh về vướng mắc liên quan đến thứ tự thanh toán tiền thi hành án đối với khoản tiền gốc (số tiền phải thi hành án theo quyết định của Bản án, Quyết định của Tòa án) và khoản tiền lãi chậm thi hành án trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án có tuyên tính lãi đối với số tiền chậm thi hành án. Về vấn đề này, sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:
Khoản 4 Điều 295 Bộ luật dân sự 1995 và khoản 2 Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 đều quy định: “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”; Điểm 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án quy định: Khi tính lãi suất chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án. Thông tư liên tịch này chưa bị văn bản quy phạm pháp luật nào hủy bỏ nên vẫn được áp dụng, trừ những nội dung không còn phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó. Như vậy, về nguyên tắc chỉ được tính lãi trên số tiền nợ gốc (số tiền phải thi hành án theo quyết định của Bản án, Quyết định của Tòa án) mà không được tính lãi trên số tiền lãi.
Điều 47 Luật Thi hành án dân sự về thứ tự thanh toán tiền thi hành án không quy định ưu tiên thanh toán khoản tiền gốc hay lãi trước. Tuy nhiên, liên quan đến thứ tự thanh toán các khoản tiền trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự là trả tiền, khi xem xét các quy định khác của pháp luật thấy rằng: Điều 338 Bộ luật dân sự 2005 có quy định: “Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có” ; khoản 11 Mục II Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT-NHNN-BTP ngày 05/02/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thủ tục bán tài sản bảo đảm, công chứng, chứng thực văn bản bán tài sản và giao tài sản cho các ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định của tòa án quy định: “Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nợ gốc, lãi, lãi quá hạn cho ngân hàng thương mại, công ty quản lý nợ sau khi trừ đi các chi phí thực tế, hợp lý liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm”. Như vậy, theo các quy định trên, trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự là trả tiền thì tiền gốc được ưu tiên thanh toán trước tiền lãi. Căn cứ Điều 3 Bộ luật Dân sự 2005 về áp dụng quy định tương tự của pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự có thể vận dụng để thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án.
Mặt khác, thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, khi thanh toán tiền thi hành án, việc thanh toán tiền lãi trước sau đó mới đến thanh toán tiền gốc dễ dẫn tới việc cơ quan thi hành án dân sự tính “lãi chồng lãi”, khoản tiền gốc không được thanh toán kịp thời lại phát sinh thêm khoản tiền lãi mới, không đảm bảo quyền lợi của người phải thi hành án (quyền lợi của người được thi hành án đã được bảo đảm bằng việc hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án). Do đó, khi thu được tiền thi hành án cần thanh toán tiền nợ gốc rồi mới đến tiền lãi chậm thi hành án.
Vì vậy, trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án tuyên tính lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền thi hành án (trừ trường hợp đương sự thỏa thuận cách thức tính, thanh toán tiền lãi chậm thi hành án và được quyết định trong Bản án, Quyết định của Tòa án) thì khi thu được tiền thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thanh toán tiền nợ gốc (số tiền phải thi hành án được tuyên rõ trong Bản án, Quyết định của Tòa án) trước, sau đó mới thanh toán tiền lãi suất chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ví dụ: Theo Bản án, ông Nguyễn Văn A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 10 tỷ đồng (số tiền 10 tỷ đồng này bao gồm cả 02 trường hợp: 10 tỷ đồng là tiền gốc hoặc 10 tỷ đồng gồm cả tiền gốc và lãi được tuyên rõ trong Bản án, Quyết định của Tòa án), trường hợp ông A chưa thi hành án thì hàng tháng phải trả lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố đối với số tiền còn phải thi hành án (ví dụ là 9%).
- Ngày 5/4/2013, bà B làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 5/4/2014, ông A nộp tại cơ quan thi hành án 5 tỷ đồng để thi hành án.
Trong trường hợp này, số tiền gốc còn lại sau khi ông A nộp 5 tỷ đồng:
10.000.000.000đ - 5.000.000.000đ = 5.000.000.000đ;
Số tiền lãi chậm thi hành án từ 5/4/2013 đến 5/4/2014 (lãi lần 1):
10.000.000đ x 9%/năm x 12 tháng = 900.000.000đ;
Như vậy, số tiền còn phải thi hành án từ ngày 6/4/2014 là 5 tỷ 900 triệu đồng. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 thì không được tính lãi chậm trả đối với số tiền lãi. Do đó, lãi chậm thi hành án chỉ được tính đối với khoản tiền 5 tỷ đồng còn lại (không tính lãi đối với số tiền 900 triệu đồng - lãi lần 1).
- Ngày 5/7/2014, ông A nộp tiếp 3 tỷ đồng để thi hành án.
Số tiền gốc còn lại sau khi ông A nộp 3 tỷ đồng là: 5.000.000.000đ (nợ gốc sau khi thanh toán lần 1) - 3.000.000.000đ = 2.000.000.000đ;
Số tiền lãi chậm thi hành án từ 5/4/2014 đến 5/7/2014 (lãi lần 2): 5.000.000.000đ (nợ gốc sau khi thanh toán lần 1) x 9%/năm x 3 tháng = 112.500.000đ;
Như vậy, số tiền còn phải thi hành án từ ngày 5/7/2014 là: 2 tỷ đồng + 900 triệu đồng (lãi lần 1) + 112,5 triệu đồng (lãi lần 2);
Trong đó, lãi chậm thi hành án tiếp theo chỉ được tính đối với khoản tiền 2 tỷ đồng còn lại (không tính lãi đối với số tiền lãi lần 1, lãi lần 2).
Những lần thanh toán tiền thi hành án tiếp theo được tính tương tự, theo nguyên tắc thanh toán hết tiền nợ gốc rồi mới thanh toán khoản lãi chậm thi hành án.
Vậy Bộ Tư pháp hướng dẫn để các cơ quan thi hành án dân sự thống nhất thực hiện./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Bộ luật Dân sự 2005
- 2Bộ luật Dân sự 1995
- 3Thông tư liên tịch 01/TTLT năm 1997 hướng dẫn xét xử và thi hành án về tài sản do Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 4Thông tư liên tịch 02/2002/TTLT/NHNN-BTP hướng dẫn Quyết định 149/2001/QĐ-TTg về thủ tục bán tài sản bảo đảm, công chứng, chứng thực văn bản bán tài sản và giao tài sản cho các ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định của toà án do Ngân hành Nhà nước và Bộ Tư pháp ban hành
- 5Luật thi hành án dân sự 2008
- 6Công văn 5847/BHXH-BC về khấu trừ tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng của người hưởng để thi hành án dân sự do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành
- 7Công văn 4967/BTP-TCTHADS năm 2014 hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp ban hành
Công văn 614/BTP-TCTHADS năm 2015 hướng dẫn việc thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 614/BTP-TCTHADS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 03/03/2015
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Thúy Hiền
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 03/03/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
