|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Hoàng
- Ông Nguyễn Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Mộng Đẹp, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trương Thành T, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 7 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trương Thành T trình bày: Ông T và bà Trần Thị M xây dựng hôn nhân với nhau vào năm 1997. Kể từ khi xây dựng hôn nhân đến nay, ông và bà M chưa đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, ông bà nảy sinh nhiều bất đồng do tính cách của cả hai không hợp nhau và đã sống ly thân từ tháng 6/2025 cho đến nay. Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà M. Ông T và bà M chung sống sinh được 02 người con chung là chị Trương Thị D, sinh ngày 20/12/2002 và anh Trương Minh T1, sinh ngày 01/01/2004. Hiện nay chị D và anh T1 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên ông T không đặt ra yêu cầu gì về con chung khi ly hôn với bà M. Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà M chung sống không có tạo lập được tài sản chung, không phát sinh nợ chung nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị M trình bày: Bà M thống nhất với nội dung ông Trương Thành T trình bày về thời gian xây dựng hôn nhân, thông tin về con chung, thời gian sống ly thân. Do quá trình sống chung xảy ra rất nhiều mâu thuẫn nên bà thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, do bà và ông T không có đăng ký kết hôn với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung đã trưởng thành, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố ông T và bà M không phải là vợ chồng; về con chung đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung, nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết. Ông T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trương Thành T nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Trần Thị M; hiện nay bà M đang cư trú tại ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Trương Thành T và bà Trần Thị M đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà M.
[2] Về hôn nhân: Vào năm 1997, ông T và bà M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo tập quán địa phương nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân không hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, do tính cách không hợp nhau dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vả. Mặc dù đã cố gắn hàn gắn nhưng không có kết quả, ông T và bà M đã sống ly thân với nhau từ tháng 6/2025 đến nay và không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua xác minh tại địa phương, xác định được thực tế ông T và bà M cũng đã sống ly thân từ khoảng thời gian trên. Từ những chứng cứ trên cho thấy thực tế quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà M đã xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không còn duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình làm việc tại Tòa, cả ông T và bà M đều đồng ý ly hôn. Xét thấy, do ông T và bà M không có đăng ký kết hôn, theo quy định khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản... được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”. Do vậy, Tòa án không công nhận ông T và bà M là vợ chồng.
[3] Về con chung: Ông T và bà M chung sống có hai người con chung là chị Trương Thị D, sinh ngày 20/12/2002 và anh Trương Minh T1, sinh năm 2004. Ông T và bà M cùng xác định, hiện nay chị D, anh T1 đã trưởng thành, không bị khiếm khuyết về tinh thần và thể chất, có thể tự lao động để kiếm sống nên ông T và bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà M thống nhất trong quá trình chung sống, ông bà không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình là 300.000 đồng, ông Trương Thành T phải chịu. Tuy nhiên, do ông T là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn yêu cầu xin miễn án phí nên ông T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
[6] Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận ông Trương Thành T và bà Trần Thị M là vợ chồng.
- Về con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình là 300.000 đồng, ông Trương Thành T phải chịu. Tuy nhiên, do ông T là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn yêu cầu xin miễn án phí nên ông T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Nhiều |
Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tao - muoi
