Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 888/2025/DS-PT

Ngày 18-12-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng dân

sự - thực hiện theo thỏa thuận

và đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn

Các Thẩm phán:

  • Ông Đinh Chí Tâm
  • Bà Kiều Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Nguyệt Quỳnh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 tháng 12, ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 678/2025/TLPT-DS ngày 03/11/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự - thực hiện theo thỏa thuận và đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 666/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Thanh T, sinh năm 1990;
  2. Địa chỉ: Số nhà B, đường M, khóm M, phường M, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Trần Đình H, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: Số B, đường T, phường C, tỉnh Đồng Tháp. (theo Văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024).

  3. Bị đơn:
    1. Ông Lê Văn P, sinh năm 1965;
    2. Địa chỉ: Khóm D, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Bà Nguyễn Thị Cẩm P1, sinh năm 1974;.
    4. Địa chỉ: Khóm D, Phường C, tỉnh Đồng Tháp.

      Chỗ ở hiện nay: Số C, tổ B, khóm B, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Phạm Trần Yến N, sinh năm 1991;
    2. Địa chỉ: Nhà T, số C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Ông Trương Văn N1, sinh năm 1964;
    4. Địa chỉ: Tổ F, khóm F, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông Trần Đình H, bà Nguyễn Thị Cẩm P1, ông Trương Văn N1, có mặt tại phiên tòa. Ông Lê Văn P, bà Phạm Trần Yến N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của bà Mai Thị Thanh T và ông Trần Đình H đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 09/11/2023, bà Mai Thị Thanh T có đặt cọc cho ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị Cẩm P1 số tiền 650.000.000 đồng để đảm bảo nhận chuyển nhượng nhà gắn liền với đất và diện tích đất 90,7m² (trong đó: đất ở 11,6m² và đất trồng cây lâu năm 79,1m²) thuộc thửa 6748, tờ bản đồ số 8 do ông P đứng tên quyền sử dụng đất và phần diện tích đất thuộc một phần thửa 4127 và thửa 2241 (tiếp giáp với thửa 6748), cùng tờ bản đồ số 8, cùng tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do ông P, bà P1 nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay với ông Trương Văn N1. Ông N1 đã giao đất cho ông P, bà P1 và ông P, bà P1 đang tiến hành thủ tục nhập vào thửa 6748. Sau khi hoàn tất việc nhập thửa thì các bên sẽ cùng đến phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng theo quy định.

Do ông P, bà P1 không tiến hành được việc nhập thửa các phần đất nhận chuyển nhượng của ông N1 để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đảm bảo điều kiện chuyển nhượng nên hai bên đã đồng ý chấm chứt các hợp đồng đặt cọc và làm lại thỏa thuận mới vào ngày 23/3/2024.

Ngày 23/3/2024, bà Mai Thị Thanh T và ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị Cẩm P1 ký tờ thỏa thuận với nội dung ông P, bà P1 cam kết trong vòng 04 tháng kể từ ngày 23/3/2024 đến ngày 23/7/2024, ông P, bà P1 sẽ trả lại cho bà T số tiền 650.000.000 đồng và chịu mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày nhận tiền (ngày 09/11/2023) cho đến khi trả đủ số tiền 650.000.000 đồng. Ông P, bà P1 đồng ý chịu thêm tiền phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng thì bà Mai Thị Thanh T sẽ đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023.

Đến nay đã quá thời hạn cam kết nhưng ông P, bà P1 vẫn không trả các khoản tiền cho bà T như thỏa thuận là vi phạm nghiêm trọng hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2023 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T.

Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu ông P và bà P1 liên đới trả cho bà T số tiền cọc 650.000.000 đồng và phạt cọc 650.000.000 đồng, tổng cộng là 1.300.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bà P1 hứa trả tiền nhiều lần nhưng không trả.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà T yêu cầu ông P và bà P1 liên đới trả cho bà T số tiền cọc 650.000.000 đồng; Tiền lãi của số tiền 650.000.000 đồng với mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 09/11/2023 đến ngày 24/6/2025 là 19 tháng 15 ngày, thành tiền lãi 126.750.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.000 đồng theo tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024, tổng cộng số tiền là 976.750.000 đồng.

Bà T yêu cầu bà P1 và ông P tiếp tục liên đới trả tiền lãi chậm trả phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng cho đến khi trả xong nợ.

Bà T hiện đang giữ 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 4127 và 2241, cùng tờ bản đồ số 8 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Trương Văn N1 vào ngày 10/5/2021 và đồng ý trả lại cho ông N1.

- Theo đơn phản tố và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm P1 trình bày: Ngày 15/9/2022, bà P1 và ông P thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất tại đường N, Phường F, thành phố C do ông P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Trần Yến N, bà N đã đặt cọc 650.000.000 đồng, bà P1 và ông P đã nhận đủ tiền cọc 650.000.000 đồng và ký tên vào hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022, giá chuyển nhượng là 1.650.000.000 đồng, còn lại 1.000.000.000 đồng. Khi nào tách thửa và hợp nhất phần đất phía sau xong và chuyển nhượng sang tên cho bà N để bà N vay Ngân hàng thì mới thanh toán số tiền còn lại cho bà P1 và ông P.

Đến ngày 07/11/2023, bà N năn nỉ bà P1 giúp ký lại hợp đồng giùm bà N nội dung như cũ chỉ thay tên bà T đứng tên dùm bà N vì bà N thiếu nợ bà T nên nhờ bà P1 giúp dùm như vậy để bà T không đòi nợ bà N nữa nhưng vẫn thực hiện như thỏa thuận với bà N và nhà này vẫn của bà N không liên quan đến bà T. Do đó, bà T kiện bà P1 và ông P là không đúng, bà P1 không mua bán hay nhận tiền gì của bà T. Bà P1 và ông P có ký tên vào hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với ông P, bà P1. Bà P1 và ông P cũng có ký tên vào tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 giữa bà T với ông P, bà P1, người làm chứng là bà N.

Bà P1 yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà N với bà P1, ông P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với bà P1, ông P. Bà P1 đồng ý trả cọc lại cho bà N 650.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà P1 rút yêu cầu đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà N với bà P1, ông P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với bà P1, ông P với lý do bà P1, ông P có ký tên vào tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 nên tại thời điểm ký tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 thì các hợp đồng đặt cọc này đã chấm dứt và không còn. Do đó, bà P1 đồng ý chấm dứt hợp đồng đặt cọc với bà N, bà T và đồng ý trả tiền cọc 650.000.000 đồng cho bà N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Văn N1 trình bày: Trước đây ông N1 có thỏa thuận chuyển nhượng cho bà P1 phần đất ngang 4,5m x dài đến nữa kênh rạch thuộc một phần thửa 4127, 2241, cùng tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố C. Việc chuyển nhượng này ông N1 và bà P1 tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với hai bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai thửa đất nêu trên thì ông N1 đồng ý nhận lại từ bà T.

- Bị đơn Lê Văn P: Không gửi (nộp) văn bản ý kiến cho Tòa án và không có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Trần Yến N: Không gửi (nộp) văn bản ý kiến cho Tòa án và không có mặt tại phiên tòa.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp), quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị Thanh T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P liên đới trả cho bà Mai Thị Thanh T số tiền 976.750.000 đồng.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P liên đới trả cho bà Mai Thị Thanh T số tiền 976.750.000 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị Thanh T đồng ý trả cho ông Trương Văn N1 hai bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Trương Văn N1 vào ngày 10/5/2021 tại thửa đất số 4127 và thửa số 2241, cùng tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm P1 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà Phạm Trần Yến N với bà Nguyễn Thị Cẩm P1, ông Lê Văn P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà Mai Thị Thanh T với bà Nguyễn Thị Cẩm P1, ông Lê Văn P.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
  5. Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P liên đới chịu tiền án phí là 41.302.500 đồng. Số tiền án phí này được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Cẩm P1 đã nộp 600.000 đồng theo biên lai thu số 0003473 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P còn phải liên đới nộp tiếp số tiền là 40.702.500 đồng.

    Trả lại cho bà Mai Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.500.000 đồng theo biên lai thu số 0013138 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật và thi hành án.

Ngày 06/7/2025, bị đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm P1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Trần Đình H trình bày: Bà T yêu cầu ông P và bà P1 liên đới trả cho bà T số tiền cọc 650.000.000 đồng; Tiền lãi của số tiền 650.000.000 đồng với mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 09/11/2023 đến ngày 24/6/2025 là 19 tháng 15 ngày, thành tiền lãi 126.750.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.000 đồng theo tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024, tổng cộng số tiền là 976.750.000 đồng.

Bà T yêu cầu bà P1 và ông P tiếp tục liên đới trả tiền lãi chậm trả phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng cho đến khi trả xong nợ.

Bà T hiện đang giữ 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 4127 và 2241, cùng tờ bản đồ số 8 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Trương Văn N1 vào ngày 10/5/2021 và đồng ý trả lại cho ông N1.

Bà Nguyễn Thị Cẩm P1 trình bày: Bà P1 rút yêu cầu đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà N với bà P1, ông P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với bà P1, ông P với lý do bà P1, ông P có ký tên vào tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 nên tại thời điểm ký tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 thì các hợp đồng đặt cọc này đã chấm dứt và không còn. Bà P1 đồng ý chấm dứt hợp đồng đặt cọc với bà N, bà T và đồng ý trả tiền cọc 650.000.000 đồng cho bà N. Bà P1 đồng ý trả tiền cọc cho bà N, không đồng ý trả tiền cọc cho bà T nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bà P1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến và đề nghị:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm P1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm P1 còn trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm, theo quy định tại Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với ông Lê Văn P, bà Phạm Trần Yến N nhưng ông P, bà N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm P1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét thấy:

[2.1] Bà P1 thừa nhận bà P1 và ông P có nhận tiền cọc 650.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất và nhà cấp 4 tại đường N, Phường F, thành phố C từ bà N theo bản chính tờ thỏa thuận đặt cọc ngày 15/9/2022 mà không nhận tiền cọc từ bà T.

[2.2] Bà P1 thừa nhận bà P1, ông P và bà T có ký tên, viết họ và tên vào hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bên đặt cọc là bà T, bên nhận đặt cọc là ông P, bên liên đới là bà P1. Theo đó, hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 có thỏa thuận thời hạn đặt cọc 650.000.000 đồng kể từ ngày các bên lập và ký hợp đồng này. Đồng thời, có thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất thuộc thửa đất số 6748, tờ bản đồ số 8 cấp cho ông P và thuộc một phần thửa 4127, thửa 2241 (tiếp giáp thửa 6748), cùng tờ bản đồ số 8 cấp cho ông N1.

[2.3] Bà P1 cho rằng bà P1 và ông P ký tên vào hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 là do ký lại hợp đồng giùm bà N, nội dung như cũ chỉ thay tên bà T đứng tên giùm bà N vì bà N thiếu nợ bà T nên nhờ bà P1 giúp giùm như vậy để bà T không đòi nợ bà N nữa. Bà P1 trình bày nhưng không có chứng cứ chứng minh.

[2.4] Ngoài ra, bà P1 còn thừa nhận bà P1, ông P, bà T và bà N đều có ký tên, viết họ và tên vào tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 giữa bên đặt cọc là bà T, bên nhận đặt cọc là bà P1 và ông P, người làm chứng là bà N. Theo đó, tại tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 các bên có thỏa thuận nội dung: “Ngoài việc ký hợp đồng đặt cọc với bên A (bà T) thì bên B (bà P1 và ông P) không thực hiện bất kỳ một giao dịch nào khác liên quan đến việc chuyển nhượng diện tích đất thuộc thửa 6748 và một phần thửa 4127, thửa 2241, cùng tờ bản đồ số 8” nên không còn liên quan đến bà N.

Cho nên, tính đến thời điểm ký tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 thì bà T, bà P1, ông P và bà N đã thống nhất chấm dứt các hợp đồng đặt cọc (tức là đã chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà N với bà P1, ông P và chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với bà P1, ông P) nên bà P1 đồng ý trả tiền cọc 650.000.000 đồng cho bà N mà không trả cho bà T là không phù hợp.

[2.5] Đồng thời, tại tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024, có người làm chứng là bà N thì bà T, bà P1 và ông P thỏa thuận nội dung: “Bên B (bà P1 và ông P) cam kết trong vòng 04 tháng kể từ ngày 23/3/2024 đến ngày 23/7/2024 bên B (Bà P1 và ông P) sẽ trả lại cho bên A (bà T) số tiền 650.000.000 đồng và chịu mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày nhận tiền 09/11/2023 cho đến khi trả đủ số tiền 650.000.000 đồng. Bên B (bà P1 và ông P) chịu thêm tiền phạt cọc 200.000.000 đồng” nên bà T yêu cầu bà P1 và ông P liên đới trả cho bà T số tiền cọc 650.000.000 đồng, tiền lãi của số tiền 650.000.000 đồng với mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 09/11/2023 đến ngày 24/6/2025 là 19 tháng 15 ngày, thành tiền lãi 126.750.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.000 đồng theo tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024, tổng cộng số tiền là 976.750.000 đồng là có căn cứ.

[2.6] Về tiền lãi chậm trả: Bà T yêu cầu bà P1 và ông P liên đới trả tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 0,83%/tháng.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ: Tờ thỏa thuận ngày 23/3/2024 các bên có thỏa thuận trả tiền lãi 1%/tháng cho đến khi trả đủ số tiền 650.000.000 đồng.

Tại Điều 13 của Nghị quyết Số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định:

“...a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015...”.

Việc tính lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là đúng theo quy định của pháp luật.

[2.7] Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N1, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà T đồng ý trả cho ông Trương Văn N1 hai bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

[2.8] Việc bà P1 rút yêu cầu đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà N với bà P1, ông P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà T với bà P1, ông P. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

[2.9] Xét việc trình bày và yêu cầu kháng cáo của bà P1 là không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Từ các căn cứ, nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy án sơ thẩm xét xử là có căn cứ.

[4] Hội đồng xét xử xét việc kháng cáo của bà P1 là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Xét việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà P1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 217, 218, 273, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, 117, 280, 328 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm P1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp.

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị Thanh T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P liên đới trả cho bà Mai Thị Thanh T số tiền là 976.750.000 đồng.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P liên đới trả cho bà Mai Thị Thanh T số tiền là 976.750.000 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Chấp nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị Thanh T đồng ý trả cho ông Trương Văn N1 hai bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho ông Trương Văn N1 vào ngày 10/5/2021 tại thửa đất số 4127 và thửa số 2241, cùng tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm P1 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 15/9/2022 giữa bà Phạm Trần Yến N với bà Nguyễn Thị Cẩm P1, ông Lê Văn P và hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/11/2023 giữa bà Mai Thị Thanh T với bà Nguyễn Thị Cẩm P1, ông Lê Văn P.
  4. Về án phí:
  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 41.302.500 đồng. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí do bà Nguyễn Thị Cẩm P1 đã nộp là 600.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003473 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Đồng Tháp). Bà Nguyễn Thị Cẩm P1 và ông Lê Văn P còn phải liên đới nộp tiếp số tiền là 40.702.500 đồng.

    Bà Mai Thị Thanh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Mai Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.500.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013138 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Đồng Tháp).

    Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Cẩm P1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004124 ngày 08/7/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng GĐ, KT, TT-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND Khu vực 6 – Đồng Tháp;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 – Đồng Tháp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (T).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 888/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng dân sự - thực hiện theo thỏa thuận và đặt cọc

  • Số bản án: 888/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự - thực hiện theo thỏa thuận và đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger