Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HSPT

Ngày 15-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Vũ Hà Nam
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Đức Cảnh
Bà Trần Thị Sâm

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 138/2025/HSPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2025/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Ninh Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1983 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T1, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20 tháng 10 năm 2009, Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là Công an tỉnh P) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69 về hành vi điều khiển xe ô tô xảy ra tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, phạt tiền 1.500.000đồng. Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

Bị hại có kháng cáo: Bà Phạm Thị T2; sinh năm 1952 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1976;

Nơi cư trú: Tiểu khu L, phường C, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/05/2025, Nguyễn Văn N có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sym, màu sơn đỏ - xám BKS 35H5-2896 từ Công ty X tại phường L, tỉnh Ninh Bình về nhà ở thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình. Khi đi đến KM 114+600 quốc lộ B thuộc tổ dân phố L, phường C, tỉnh Ninh Bình, N điều khiển xe theo hướng từ phường L đi phường C với vận tốc khoảng 35-40km/h trên chiều đường bên phải theo hướng đang đi thì phát hiện phía trước có phương tiện xe ô tô đi ngược chiều chiếu đèn pha làm cho N bị hạn chế tầm nhìn. Lúc này N không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng. Khi đèn pha của xe ô tô ngược chiều đi qua thì N phát hiện phía trước, cách đầu xe mô tô do N điều khiển khoảng 01m thấy bà Phạm Thị T2, sinh năm 1952, trú tại tổ dân phố L, phường C đang đi bộ phía trước cùng chiều, cách lề bên phải khoảng 01m. Do khoảng cách gần nên N không tránh được dẫn đến phần nửa bên trái chắn bùn phía trước và má lốp bên trái bánh xe phía trước xe mô tô do N điều khiển đâm vào người bà T2 làm cho bà T2 bị ngã ra đường, chiếc xe mô tô và N bị trượt rê về phía lề bên phải Quốc lộ B. Hậu quả, bà T2 bị chấn thương sọ não phải điều trị tại Bệnh viện Đ, tỉnh Ninh Bình và Bệnh viện T3, sau đó tử vong.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Sym, màu sơn đỏ - xám, BKS 35H5-2896; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn N; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên chủ xe Nguyễn Hồng K2 đối với xe mô tô BKS 35H5-2896.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là Km 114+600 Quốc lộ B, tổ chức giao thông là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, phần đường bên phải hướng P đi B rộng 5,6m và phần đường ngược chiều rộng 4,9m. Hai phần đường được phân cách với nhau bởi vạch sơn màu vàng nét đứt rộng 0,15m. Lề đường rộng 4,3m, bên cạnh lề đường có đường sắt rộng 1,1,m. Lề đường cao hơn Quốc lộ B là 0,2m.

Chọn mép đường bên phải Quốc lộ B hướng B đi P là mép đường chuẩn.

Chọn tâm chân cột điện số lô 1 T làm điểm mốc chuẩn (các số đo được đo vuông góc).

Trên hiện trường để lại các dấu vết, phương tiện được đánh số thứ tự từ số (1) đến số (4)

Điểm mốc cách dấu vết số (1) hướng B đi P là 2,2,m.

Ký hiệu số (1) là dép xốp màu xanh bên trái, kích thước (0,22x0,1)m. T1 dấu vết số (1) cách tâm dấu vết số (2) hướng B đi P là 1,9m.

Ký hiệu số (2) là dép xốp màu xanh bên phải, kích thước (0,22x0,1)m. T1 dấu vết số (2) cách mép đường chuẩn 1,1m. T1 dấu vết số (2) cách đầu dấu vết số (3) hướng B đi Phủ Lý 1,9m.

Ký hiệu số (3) là vết mài trượt không liên tục, hướng B đi P, đầu dấu vết cách mép đường chuẩn 1,2m, điểm cuối dấu vết là vị trí tiếp giáp giữa đầu để chân trước bên trái xe mô tô số (4) với mặt lề đường, kích thước vết mài trượt (8,8x0,03)m. Dấu vết số (3) cách trục sau xe mô tô số (4) hướng B đi Phủ Lý 7,9m.

Ký hiệu số (4) là xe mô tô biển số 35H5-2896 đổ nghiêng sườn trái xuống mặt lề đường bên phải quốc lộ 21 theo hướng B đi P. Đầu xe quay hướng P, đuôi xe quay hướng B. Trục trước cách mép đường chuẩn 2,6m, trục sau cách mép đường chuẩn 2,1m (bút lục 19-21).

* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu SYM, BKS 35H- 2896:

  • Nửa bên trái phần trước chắn bùn bánh trước mặt ngoài để lại vết trượt mất bụi bề mặt bám dính những đường vân song song kích thước (26x6)cm, hướng từ trước về sau, chếch từ phải sang trái, điểm gần nhất đầu vết cách cạnh trước chắn bùn này 5cm, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 57cm.
  • Má lốp bánh trước bên trái để lại nhiều vết trượt, chùi bụi kích thước (40x2)cm, hướng từ ngoài vào tâm trục, một đầu của vết tại ví trí chân van.
  • Phần cánh yếm bên trái để lại vết chùi bụi, bề mặt có những đường vân dạng song song, kích thước (16x8)cm, hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất là 63cm, điểm gần nhất của vết cách cạnh dưới cùng cánh yếm này 48cm.
  • Để chân phía trước bên trái bị đẩy từ trước về sau, lệch so với vị trí ban đầu 3m, đầu ngoài ốp cao su để chân này bị rách để lộ lõi kim loại bên trong, đầu lõi kim loại để lại vết mài sạt bề mặt bám dính bụi đá kích thước (2x1)cm, hướng từ trước về sau.

Ngày 22/5/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định số 3002, trưng cầu Phòng K3 Công an tỉnh H giám định nguyên nhân

tử vong của bà Phạm Thị Thục . Tại bản kết luận giám định tử thi số 360/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh H kết luận:

“- Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng (Vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện, dập não).

- Kết luận khác: Đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết trên tử thi:

  • Các dấu vết tổn thương bên ngoài tử thi hình thành tác động với vật tày theo cơ chế va đập trực tiếp, chà sát hướng chủ yếu từ dưới lên trên gây nên.
  • Các tổn thương sọ não hình thành theo cơ chế tổn thương tại chỗ và tổn thương bên đối diện gây nên”.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm lập hồi 23 giờ 50 phút ngày 21/5/2025 của Bệnh viện Đ xác định định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Nguyễn Văn N là 1.4 mg/dl (khoảng tham chiếu <34mg/dl).

Tại phiếu kết quả xét nghiệm lập hồi 23 giờ 20 phút ngày 21/5/2025 của Bệnh viện Đ, kết quả xét nghiệm ma túy của Nguyễn Văn N: âm tính.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn N đã bồi thường dân sự cho gia đình bà Phạm Thị T2 số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà T2 đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có đề nghị gì về dân sự.

Từ những tình tiết nêu trên; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2025/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Ninh Bình đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại.

Ngày 01/10/2025, bị cáo bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 02/10/2025, người đại diện hợp pháp của bị hại – anh Nguyễn Văn K1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm,

Bị cáo Nguyễn Văn N xin rút phần nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo; xin HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 rút phần nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; giữ nguyên nội dung kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm:

  • Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại tự nguyện rút một phần nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy việc rút một phần nội dung kháng cáo là tự nguyện, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • Quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở giai đoạn sơ thẩm đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Tại cấp phúc thẩm; bị cáo có nộp thêm tài liệu thể hiện bố vợ bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo; đây là những tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại: Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn N; anh Nguyễn Văn K1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại làm trong thời hạn luật định, được HĐXX xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại tự nguyện rút một phần nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên nội dung

kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy việc rút một phần nội dung kháng cáo là tự nguyện, do vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thấy rằng: căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa; trong quá trình điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế khi điều khiển xe đi thẳng dẫn đến nửa bên trái chắn bùn phía trước và má lốp bên trái bánh xe phía trước của xe mô tô do N điều khiển đâm vào bà Phạm Thị T2 đang đi bộ phía trước cùng chiều làm bà T2 bị thương tích, sau đó tử vong. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo: Xét thấy, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình; bố vợ của bị cáo là ông Nguyễn Hồng K2 là người có công với cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Mặt khác, người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 cũng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng đối chiếu với các điều kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS đối với bị cáo. Vì vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo.

[3] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1; sửa bản án sơ thẩm.

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho UBND xã G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo, cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn N; anh Nguyễn Văn K1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND, TAND khu vực 5;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hà Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HSPT ngày 15/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 85/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N tham gia giao thông đâm gây chết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger