TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 839/2025/DS-PT Ngày: 09 -12 -2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Nam - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 460/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 24 tháng 06 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1312/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
- Địa chỉ: 2 N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc;
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Hoàng T – Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh T4 kiêm Trưởng PGD Cai Lậy (Văn bản uỷ quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023);
- Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Lê Thị Trúc L – Chức vụ: Chuyên viên (Văn bản uỷ quyền ngày 25/11/2025); (có mặt)
- Địa chỉ: Quốc lộ A, khu phố A, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- * Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1959; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1962; (có mặt)
- Cùng địa chỉ: 2, khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu L2, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu Duy T2, sinh năm 1998; (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: 2, khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- - Người kháng cáo: Bị đơn: Phạm Thị L1, sinh năm 1962.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
* Tại đơn khởi kiện ngày 28/11/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Trương Minh N trình bày:
Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 có ký hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng tín dụng LD1922800420 ngày 17 tháng 8 năm 2019;
- Số tiền vay: 260.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số LD1922800420 ngày 19/8/2019.
- Mục đích vay vốn: tiêu dùng sửa chữa nhà:
- Thời hạn cho vay 05 năm
- Ngày đáo hạn: 19/8/2024
- Lãi suất vay: 12,5%/năm, lãi suất điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng
Về tài sản bảo đảm: Hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1922800420 ngày 19/8/2019. Tài sản thế chấp bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất thửa đất số 360, tờ bản đồ 38, diện tích 62,9 m², tọa lạc phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H04104 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/6/2006 cho hộ ông Nguyễn Hữu T1.
Trong quá trình vay vốn từ ngày 19/8/2019 ông T1 bà L1 đã thanh toán cho Ngân hàng khoản vay nêu trên với số tiền là 99.431.890 đồng, trong đó tiền lãi trong hạn số tiền là 135.000.000 đồng, hiện tại khoản vay đã phát sinh quá hạn tiền vốn lãi và đã quá hạn.
Tính đến ngày 24/6/2025, ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 134.009.532 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 51.895.632 đồng.
- + Lãi trong hạn: 30.295.438 đồng.
- + Lãi quá hạn: 43.248.445 đồng.
- + Lãi chậm trả: 8.570.017 đồng.
Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần liên hệ và làm việc trực tiếp, thông báo nhắc nợ, thông báo chuyển nợ quá hạn, thông báo về thu hồi nợ trước hạn. Nhưng khách hàng đã không thực hiện, vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký kết.
Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Hữu T1 – bà Phạm Thị L1 phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S với số tiền vốn là 51.895.632 đồng; tiền lãi trong hạn là 30.295.438 đồng; tiền lãi quá hạn đến ngày 24/6/2025 số tiền là 43.248.445 đồng, tiền lãi chậm trả đến ngày 24/6/2025 số tiền là 8.570.017 đồng. Tổng cộng số tiền phải thanh toán tạm tính đến ngày 24/6/2025 là 134.009.532 đồng.
Sau ngày 24/6/2025 nếu ông Nguyễn Hữu T1 – bà Phạm Thị Lệ C thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi, lãi chậm trả theo lãi suất của hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong nợ.
Nếu ông Nguyễn Hữu T1 – bà Phạm Thị L1 không thực hiện việc trả nợ, kính đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tuyên cho Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp cho Ngân hàng để trả nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Hữu T1 đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T1 không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong các phiên hòa giải, phiên tòa.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị L1 trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà và ông T1 có vay tiền của Ngân hàng TMCP S số tiền 260.000.000 đồng. Nay bà cũng thống nhất hiện bà và ông T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền 134.009.532 đồng. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà đồng ý trả số tiền 134.009.532 đồng. Nhưng bà đề nghị Ngân hàng TMCP S trừ đi số tiền 32.520.000 đồng mà bà đã nộp theo:
- - Giấy nộp tiền kiêm phiếu thu tiền mặt đề ngày 25/7/2022 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Giấy nộp tiền kiêm phiếu thu tiền mặt đề ngày 26/9/2022 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Giấy nộp tiền đề ngày 27/10/2022 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Giấy nộp tiền đề ngày 29/11/2022 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Giấy nộp tiền đề ngày 03/01/2023 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Giấy nộp tiền đề ngày 23/02/2023 số tiền 2.520.000 đồng.
Hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà xin trả dần mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu D1, ông Nguyễn Hữu L2, bà Nguyễn Thị Mỹ D2, bà Nguyễn Thị Trúc H, ông Nguyễn Hữu Duy T2 đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông D1, ông L2, bà D2, bà H, ông T2 không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong các phiên hòa giải, phiên tòa.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 24 tháng 06 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 134.009.532 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm lẻ chín nghìn năm trăm ba mươi hai đồng), (trong đó vốn gốc 51.895.632 (Năm mươi mốt triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng), lãi suất tính đến ngày 24/6/2025 là 82.113.900 (T3 mươi triệu một trăm mười ba nghìn chín trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 25/6/2025 ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng LD1922800420 ngày 17 tháng 8 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chĩnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu xử ký tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án theo hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1922800420 ngày 19/8/2019.
Khi ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 thanh toán xong toàn bộ số nợ còn thiếu thì Ngân hàng TMCP S có trách nhiệm đăng ký xóa thế chấp và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho hộ ông Nguyễn Hữu T1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 07/7/2025, bị đơn Phạm Thị L1 có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm 69/2025/DS-ST ngày 24 tháng 06 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bà được trả dần số nợ mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi trả hết 134.009.532 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Bị đơn bà Phạm Thị L1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin trả dần mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, do hoàn cảnh kinh tế gia đình bà khó khăn không có khả năng trả một lần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Phạm Thị L1 xin trả dần mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ 134.009.532 đồng là không phù hợp qui định pháp luật. Đồng thời, đại diện ủy quyền của Ngân hàng không đồng cho bà L1, ông T1 trả dần nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà L1. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà L1, giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Bà Phạm Thị L1 thực hiện đúng qui định theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo đúng qui định Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo qui định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 là đúng qui định.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị L1, nhận thấy:
Quá trình xem xét đánh giá hợp đồng vay giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1, thấy rằng:
Việc vay tiền giữa các bên được thực hiện từ năm 2019 tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và các bên tự nguyện giao kết hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 có thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 99.431.890 đồng, trong đó tiền lãi trong hạn số tiền là 135.000.000 đồng. Phía bị đơn ông T1, bà L1 thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền 134.009.532 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông T1, bà L1 còn nợ Ngân hàng số tiền 134.009.532 đồng là có căn cứ.
Xét yêu cầu xin trả dần của bà Phạm Thị L1 xin trả mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi hết nợ là không phù hợp qui định pháp luật. Việc xin trả dần của ông T1, bà L1 nhằm kéo dài thời gian thu hồi nợ của Ngân hàng. Đồng thời, đại diện ủy quyền của Ngân hàng không đồng ý việc cho ông T1, bà L1 trả dần nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà L1.
Từ những phân tích trên, yêu cầu kháng cáo của bà L1 là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Lệ . Giữ y Bản án sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp).
Căn cứ Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 25/6/2025 ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng LD1922800420 ngày 17 tháng 8 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chĩnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Bà Phạm Thị L1, ông Nguyễn Hữu T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.
Buộc ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 134.009.532 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm lẻ chín nghìn năm trăm ba mươi hai đồng), (trong đó vốn gốc 51.895.632 (Năm mươi mốt triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng), lãi suất tính đến ngày 24/6/2025 là 82.113.900 (T3 mươi triệu một trăm mười ba nghìn chín trăm đồng).
Trường hợp ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu xử ký tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án theo hợp đồng thế chấp tài sản số: LD1922800420 ngày 19/8/2019.
Khi ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị L1 thanh toán xong toàn bộ số nợ còn thiếu thì Ngân hàng TMCP S có trách nhiệm đăng ký xóa thế chấp và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho hộ ông Nguyễn Hữu T1.
H1 lại cho Ngân hàng TMCP S 1.897.391 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000538 ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diệp Thúy |
Bản án số 839/2025/DS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 839/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
