|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HS-PT Ngày: 12/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mai Anh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và Trần Thị Sâm
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 135/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị T, sinh năm 1993 tại tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị); Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị L; chồng: Trần Hữu C; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/6/2025 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Bà Trần Thị Q, sinh năm 1950 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp cho bà Trần Thị Q là các con của bà Q gồm:
- + Chị Vũ Thị Q1, sinh năm 1980.
- Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Q, phường D, tỉnh Ninh Bình).
- + Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Chị Vũ Thị Q1 ủy quyền cho anh Vũ Văn T1 tham gia tố tụng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Hữu C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/3/2025, Nguyễn Thị T (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu xám - đen, biển số 90D1 - 149.63 đi từ nhà đến đường Q để mua sữa. Khi đi đến đường Đ thuộc tổ dân phố C, phường Y, thị xã D (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình), T điều khiển xe mô tô biển số 90D1 - 149.63 với tốc độ khoảng 30km/h, phía bên phải đường, hướng Bạch Thượng - QL38. Cùng lúc này bà Trần Thị Q đang đi bộ trên đường Đ phía trước bên trái theo chiều đi của T. Do thiếu chú ý quan sát nên T đã điều khiển xe mô tô 90D1 - 149.63 đi sang phần đường ngược chiều, đâm va vào phần lưng bên phải của bà Q, làm cho bà Q bị ngã sấp về phía trước, T cùng xe mô tô bị đổ ngã ra đường. Hậu quả: Nguyễn Thị T bị xây sát nhẹ, bà Q bị thương nặng được đưa đi Bệnh viện Đ để cấp cứu và điều trị. Đến rạng sáng ngày 17/4/2025 thì tử vong.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu đối với Nguyễn Thị T xác định định lượng Ethanol (cồn) (máu) kết quả 0.0mg/dl.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại đường Đ thuộc tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Mặt đường được trải bê tông xi măng phẳng, là đường hai chiều không có tổ chức giao thông, mặt đường rộng 5m. Phía trước hiện trường theo chiều đi hướng B - Quốc lộ C đường cong về phía bên phải theo chiều đường đi B - Quốc lộ C. Mốc của hiện trường là trụ cổng phía bên trái theo hướng nhìn từ đường H vào Trường tiểu học T2 thuộc phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Tất cả các số đo đều được đo vuông góc vào mép đường bê tông bên phải theo chiều đường đi hướng Quốc lộ C - Bạch Thượng (mép đường chuẩn) và được đánh số thứ tự lần lượt từ (1) đến (3). Cụ thể như sau:
- Dấu vết (1) là vết cầy có kích thước (0,35 x 0,01)m có hướng Bạch Thượng - Quốc lộ C. Đo từ mép gần nhất điểm đầu dấu vết (1) vào mép đường chuẩn là 1,40m. Đo từ mép gần nhất cuối dấu vết (1) vào mép đường chuẩn là 1,33m. Dấu vết (2) là vết cầy có kích thước (3,65 x 0,40)m có hướng Bạch Thượng - Quốc lộ C. Đo từ mép gần nhất đầu dấu vết (2) vào mép đường chuẩn là 1,1m. Mép gần nhất cuối dấu vết (2) trùng với mép đường chuẩn. Dấu vết (3) là khu vực máu có kích thước (01 x 0,9)m. Đo từ tâm khu vực (3) vào mép đường chuẩn là 0,3m. Đo từ điểm đầu dấu vết (1) về phía Bạch Thượng theo chiều vuông góc 12m là đến đỉnh cong của mép đường bên phải chiều đường đi hướng Quốc lộ C - Bạch Thượng.
2
Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu xám - đen, biển số 90D1 - 149.63: Mặt ngoài đầu cung chắn bùn lốp bánh trước có khu vực trà xước trên diện kích thước (15 x 13)cm có hướng từ trước về sau. Điểm thấp nhất đo cách mặt đất 53cm. Mặt ngoài càng xe bên trái của bánh trước có khu vực chùi sạch bụi trên diện kích thước (37 x 7)cm có hướng từ trước về sau. Mặt ngoài cánh yếm chắn gió bên trái có khu vực chùi sạch bụi trên diện kích thước (50 x 20)cm có hướng từ trước về sau. Tay gương chiếu hậu bên phải bằng kim loại có vết mài sạt bề mặt còn bám dính chất màu trắng nghi bụi bê tông xi măng trên diện kích thước (3 x 1)cm có hướng từ trước về sau. Cánh yếm chắn gió bên phải có vết trầy xước trên diện kích thước (28 x 6)cm có hướng từ trước về sau. Mặt ngoài cạnh bàn để chân trước bên phải có vết chà xước trên diện kích thước (10 x 5)cm có hướng từ trước về sau. Để chân sau bên phải gập sát vào thân xe. Tại mặt ngoài của bàn để chân này có vết mài sạt trên diện kích thước (8 x 5)cm có hướng từ trước về sau. Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống xả bên phải xe có vết mài sạt trên diện kích thước (30 x 8)cm có hướng từ trước về sau.
Kết quả khám nghiệm tử thi: Ngày 17/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt là: CSĐT) - Công an tỉnh H (nay là Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N) ra Quyết định trưng cầu giám định số 1718/QĐ-VPCQCSĐT giám định nguyên nhân tử vong của bà Trần Thị Q.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 17/KLGĐTT-TTGĐYK&PY ngày 14/5/2025 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H (nay là Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh N) kết luận: Sây sát da bám vảy tiết nhiều nơi trên thi thể, bầm tím vùng cổ phải. Do không mổ tử thi nên không đủ căn cứ kết luận nguyên nhân tử vong của bà Trần Thị Q.
Ngày 05/6/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H (nay là Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N) ra Quyết định trưng cầu giám định số 3352/QĐ-VPCQCSĐT giám định nguyên nhân tử vong qua hồ sơ đối với bà Trần Thị Q.
3
Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 08/KLTTHS-TTGĐYK&PY ngày 19/6/2025 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H (nay là Trung tâm Pháp y tỉnh N) đối với nạn nhân Trần Thị Q, kết luận:
- - Căn cứ vào hồ sơ giám định nhận định nạn nhân Trần Thị Q tử vong do đa chấn thương rất nặng (chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín) không đáp ứng với điều trị trên người có tiền sử đái tháo đường tuýp II và tăng huyết áp.
- - Cơ chế hình thành dấu vết tổn thương: Đa chấn thương do thi thể va đập mạnh với vật tày gây nên.
Đồ vật thu giữ, tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode, biển số 90D1 - 149.63; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Trần Hữu C, biển số đăng ký 90D1 - 149.63; 01 đoạn video thời lượng 25 giây, được trích xuất vào 01 đĩa DVD, được niêm phong vào trong một phong bì dán kín ký hiệu “YB01” có chứa hình ảnh liên quan vụ án.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 90D1 - 149.63 kèm theo giấy tờ xe đã thu giữ là tài sản hợp pháp của anh Trần Hữu C. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không phải là vật chứng của vụ án, vụ việc nào khác. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô BKS 90D1 - 149.63 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe cho anh Trần Hữu C; đối với 01 đĩa DVD có chứa nội dung vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 09/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/9/2025 bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt là quá cao xin giảm nhẹ và được hưởng án treo. Lý do kháng cáo: Tôi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho tôi. Tôi sinh ra trong gia đình truyền thống yêu nước, ông nội được tặng thưởng H, Huy chương, bác ruột là Liệt sỹ.
4
Tôi có nhân thân tốt, đang nuôi con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Bản thân tôi nhận thức pháp luật hạn chế, lần đầu phạm tội. Kính mong cấp phúc thẩm xem xét cho hoàn cảnh của tôi để tôi có cơ hội sửa chữa sai lầm và tiếp tục chăm sóc hai con vì các cháu còn quá nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm theo hưởng giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng treo; Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/3/2025, tại đường Đ thuộc tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình), Nguyễn Thị T không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 90D1 - 149.63 đi theo hướng Bạch Thượng - QL38, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, đi không đúng phần đường quy định, đã đâm vào bà Trần Thị Q đang đi bộ phía trước ở phần đường ngược chiều, hậu quả bà Q bị thương nặng được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đ, đến ngày 17/4/2025 thì tử vong. Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị T là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt là quá cao xin giảm nhẹ và được hưởng án treo. Lý do kháng cáo: Tôi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho tôi. Tôi sinh ra trong gia đình truyền thống yêu nước, ông nội được tặng thưởng H, Huy chương, bác ruột là Liệt sỹ. Tôi có nhân thân tốt, đang nuôi con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Bản thân tôi nhận thức pháp luật hạn chế, lần đầu phạm tội. Kính mong cấp phúc thẩm xem xét cho hoàn cảnh của tôi để tôi có cơ hội sửa chữa sai lầm và tiếp tục chăm sóc hai con vì các cháu còn quá nhỏ. Tại cấp phúc thẩm,
5
HĐXX nhận được đơn xác nhận của UBND phường Đ xác định bị cáo là lao động chính và phải trực tiếp nuôi con nhỏ. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được UBND phường xác nhận về việc có thu nhập dưới 1.000.000 đồng/ tháng. HĐXX nhận định, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu. Đối chiếu với qui định về việc cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, HĐXX quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo được chấp nhận, nên người kháng cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
6
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊNTÒA |
|
Trần Thị Sâm Trần Công Đoàn |
Mai Anh Tuấn |
7
Nơi nhận:
- - TAND Tối Cao;
- - VKSND tỉnh Ninh Bình;
- - TA, CA, VKS khu vực 6- Ninh Bình;
- - THADS tỉnh Ninh Bình;
- - Các bị cáo;
- - Lưu HS, VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Anh Tuấn |
8
Bản án số 83/2025/HS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 83/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Th vi pham giao thông đường bộ
