|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày 31 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Ly, ông Huỳnh Văn Dứt
Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: ông Lê Trần Long - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hải P, sinh ngày 01/01/1983; nơi sinh: xã C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật Giáo; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ: Lê Thị Trúc L, sinh năm 1991 (đã ly hôn), con: có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2023; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là người thứ hai.
Tiền án:
- Ngày 15/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo 01 năm 04 tháng 02 ngày, kể từ ngày tuyên án (đã khấu trừ thời hạn tạm giam là 03 tháng 29 ngày), buộc nộp 1.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 17/5/2010, chấp hành xong hình phạt, chưa nộp tiền phạt và án phí.
- Ngày 19/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm) Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/6/2025, chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp án phí.
Tiền sự: không.
2
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Chợ M - thuộc Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh A (có mặt).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 2003, địa chỉ: ấp L, xã C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Hồ Ngọc N, sinh năm 2007, địa chỉ: ấp L, xã C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn N1 (có mặt).
- Ông Đoàn Văn T1 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Cẩm N2 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 20/9/2025, Nguyễn Hải P đang đi bộ về bến đò Cồn ở ấp L, xã C. Khi đi đến nhà của Nguyễn Văn D ở cùng ấp, phát hiện 01 xe mô tô biển số 67AL-395.98 dựng trước sân nhà, chìa khóa ghim sẵn trên ổ khóa, không người trông coi, nên P nảy sinh ý định trộm để bán lấy tiền tiêu xài. P lén lút đi vào dẫn xe mô tô trên ra khỏi nhà D và khởi động máy điều khiển xe chạy đến phường C bán xe mô tô biển số 67AL-395.98 cho người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 7.500.000 đồng, P tiêu xài cá nhân hết. Ngày 23/9/2025, khi biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện, P đến Công an xã C.
* Vật chứng thu giữ: 01 áo thun vải màu xám, in hình và chữ “STAAR POWER”, 01 quần sọt vải màu nâu, 01 nón lưỡi chai màu trắng, xanh (đều đã qua sử dụng).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 898/KL-HĐĐG.TTHS ngày 03/11/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thường xuyên xã C: 01 xe mô tô biển số 67AL-395.98, nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, số khung RLHJA3932SY024269, số máy JA70E0823332, màu sơn: Đỏ, đen, năm sản xuất 2025, có giá 12.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại 01 xe mô tô biển số 67AL-395.98 trị giá 12.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKSKV11 ngày 26 tháng 11 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang đã truy tố Nguyễn Hải P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hải P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
3
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải P từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 áo thun vải màu xám, in hình và chữ “STAAR POWER”, 01 quần sọt vải màu nâu, 01 nón lưỡi chai màu trắng, xanh (đều đã qua sử dụng).
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên tòa, người làm chứng Đoàn Văn T1, Trần Thị Cẩm N2 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hải P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 09 giờ ngày 20/9/2025, Nguyễn Hải P đang đi bộ về bến đò Cồn ở ấp L, xã C. Khi đi đến nhà của Nguyễn Văn D ở cùng ấp, phát hiện 01 xe mô tô biển số 67AL-395.98 dựng trước sân nhà, chìa khóa ghim sẵn trên ổ khóa, không người trông coi, nên P nảy sinh ý định trộm để bán lấy tiền tiêu xài. P lén
4
lút đi vào dẫn xe mô tô trên ra khỏi nhà D và khởi động máy điều khiển xe chạy đến phường C bán xe mô tô biển số 67AL-395.98 cho người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 7.500.000 đồng, P tiêu xài cá nhân hết. Ngày 23/9/2025, khi biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện, P đến Công an xã C.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hải P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có 02 tiền án:
- Ngày 15/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo 01 năm 04 tháng 02 ngày, kể từ ngày tuyên án (đã khấu trừ thời hạn tạm giam là 03 tháng 29 ngày), buộc nộp 1.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 17/5/2010, chấp hành xong hình phạt, chưa nộp tiền phạt và án phí.
- Ngày 19/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm) Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/6/2025, chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp án phí.
Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi sự việc xảy ra bị cáo đầu thú, đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là
5
có căn cứ do đó Hội đồng xét xử cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo P.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo P không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 áo thun vải màu xám, in hình và chữ “STAAR POWER”, 01 quần sọt vải màu nâu, 01 nón lưỡi chai màu trắng, xanh (đều đã qua sử dụng). Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 12.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại là phù hợp theo quy định của pháp luật nên bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn D, bà Hồ Ngọc N số tiền 12.000.000 đồng.
[8] Về đánh giá hành vi khác có liên quan:
Đối với 01 xe mô tô biển số 67AL-395.98 bị cáo khai bán xe cho người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) hiện chưa làm việc được, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[9] Về các vấn đề khác: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm vá án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải P 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/9/2025).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 áo thun vải màu xám, in hình và chữ “STAAR POWER” (đã qua sử dụng).
- 01 nón lưỡi chai màu trắng, xanh (đã qua sử dụng).
- 01 quần sọt vải màu nâu (đã qua sử dụng).
6
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh A với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - An Giang ngày 30/12/2025).
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Nguyễn Hải P phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn D, bà Hồ Ngọc N số tiền 12.000.000 đồng.
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn D, bà Hồ Ngọc N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Hải P chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm cho ông Nguyễn Văn D, bà Hồ Ngọc N tiền lãi theo mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hải P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 77/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Hải P, sinh ngày 01/01/1983; nơi sinh: xã C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật Giáo; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ: Lê Thị Trúc L, sinh năm 1991 (đã ly hôn), con: có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2023; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là người thứ hai.
