|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 761/2025/DS-PT Ngày: 10-12-2025 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Ông Nguyễn Phước Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ôn Tú Trân – Thư ký Tòa án nhân dân Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 585/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 627/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ông Huỳnh Nguyễn Minh V, sinh năm 1996. CCCD số: [...], cấp ngày: 28/8/2022. Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Bà Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1996. CCCD số: [...], cấp ngày: 28/8/2022. Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Cùng địa chỉ: ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V, bà H: chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1990. CCCD số: [...], cấp ngày: 19/8/2022. Cục cảnh sát QLHC về TTXH (Văn bản ủy quyền ngày 17/10/2025)
Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. CCCD số: [...], cấp ngày: 25/3/2021. Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Nguyễn P, sinh năm 1972. CCCD số: 0051072000631, cấp ngày: 18/9/2022. Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: số A N, Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2025) (có mặt).
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: ông Nguyễn Văn T1 - Luật sư – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1973.
Địa chỉ: ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2024 và trong quá trình làm việc nguyên đơn ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H trình bày:
Ngày 03/01/2023 dương lịch (viết tắt là DL) vợ chồng ông có cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền, 410.000.000đồng khi vay có lập “giấy nợ ngày 03/01/2023 DL" bà T có ký tên. Trong giấy nợ không ghi lãi suất, không ghi thời hạn trả nợ. Nhưng bà T và ông V có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 3%/tháng. Sau khi vay tiền bà T không trả tiền lãi, đến tháng 02/2024 ông V yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không trả. Bà T và ông M là vợ chồng sống chung nhà với nhau. Bà T vay tiền nhằm để kinh doanh chi tiêu trong gia đình nên ông M cũng có nghĩa vụ trả nợ chung với bà T.
Do đó, ông V, bà H yêu cầu bà T và ông M cùng có nghĩa vụ trả số tiền 410.000.000đồng và trả tiền lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày mượn là ngày 03/01/2023 đến ngày 01/8/2025 là 191.333.333đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà xác nhận có nợ ông V số tiền nợ là 410.000.000đồng theo “giấy nợ ngày 03/01/2023 DL”. Bà xác định chữ ký chữ viết trong giấy nợ này là của bà, bà không yêu cầu giám định chữ ký.
Khi vay tiền giữa bà và ông V có thỏa thuận bằng lời nói tiền lãi là mỗi ngày là 2000đồng/1.000.000đồng. Bà đã trả lãi cho ông V bằng hình thức trả tiền mặt và chuyển khoản. Nay bà yêu cầu khấu trừ lại số tiền lãi bà đã trả trước đó cho ông V. Tuy nhiên, bà không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho việc bà đã trả tiền lãi cho ông V.
Việc bà vay tiền của ông V, ông M không biết nên bà không yêu cầu ông M cùng có nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H đối với bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn M.
Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn M có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H số tiền nợ gốc 410.000.000 đồng và 105.517.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 515.517.000đồng.
Kể từ ngày ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T, ông M không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà T, ông M còn phải trả cho ông V, bà T số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bà T, ông M phải chịu số tiền 24.620.000đồng án phí dân sự sơ thẩm phù hợp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả cho ông V số tiền 10.250.000đồng theo biên lai thu số 0012314 ngày 17/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Tây Ninh.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, bị đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là nợ riêng của bà T, không phải là nợ chung của bà T và ông M, bà T đề nghị xem xét lại tiền lãi đã trả cho ông V, bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Phần tranh luận:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T trình bày: Số tiền 410.000.000đồng thực tế là tiền lãi của số tiền bà T nợ bà Đ (mẹ ông V) nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi của số tiền lãi này là lãi chồng lãi, thực tế bà T không mượn ông V số tiền này, tuy nhiên bà Đ nói rằng số tiền lãi này ông V đã bù lãi cho bà T nên yêu cầu bà T viết giấy vay tiền ông V. Ông M là chồng bà T không có trách nhiệm và không liên quan gì đến số tiền này, bà T và ông M đã ly thân từ năm 2016 đến nay nhưng chưa ly hôn. Do đó, đề nghị không tính lãi và không buộc ông M phải liên đới với bà T trả nợ cho ông V.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông V trình bày: bà T cho rằng số tiền 410.000.000đồng là tiền lãi vay của bà Đ nhưng không có chứng cứ chứng minh, bà T trình bày mục đích vay tiền là để kinh doanh sinh lợi phục vụ cuộc sống gia đình, luật sư bảo vệ cho bà T cho rằng ông M và bà T ly thân từ năm 2016 đến nay nhưng không có chứng cứ chứng minh, hiện nay bà T và ông vẫn còn là vợ chồng chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về chấp hành pháp luật: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà T trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ông M đã được triệu tập hợp lệ đến lần 2 nhưng vẫn vắng mặt. căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà T đề nghị xác định số tiền nợ 410.000.000đồng là nợ riêng của cá nhân bà T, không đồng ý trả tiền lãi, đề nghị xem xét lại số tiền lãi bà T đã trả cho ông V, bà H. Xét thấy:
[2.1] Bà T trình bày số tiền 410.000.000đồng theo giấy nợ ngày 03/01/2023 là tiền lãi của số tiền bà vay của bà Đ (mẹ ông V) nhưng do không có tiền trả lãi nên bà Đ yêu cầu bà T viết giấy nợ ông V. Lời trình bày của bà T không được ông V thừa nhận, bà T không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà T trình bày bà T đã trả tiền lãi cho ông V và yêu cầu được trừ số tiền lãi đã trả vào số tiền gốc, nhưng bà T không cung cấp được chứng cứ trả tiền lãi cho ông V là bao nhiêu và trả vào ngày tháng năm nào, như vậy lời trình bày của bà T bất nhất và không có căn cứ. do đó, án sơ thẩm buộc bà T phải trả cho ông V bà H số tiền gốc 410.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày mượn tiền đến ngày xét xử sơ thẩm là 105.517.000đồng là có căn cứ.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án bà T trình bày bà vay tiền của ông V, bà H sử dụng vào việc kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi để chi tiêu trong gia đình và đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là nợ chung của bà T và ông M nên án sơ thẩm buộc bà T và ông M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông V, bà H số tiền gốc và lãi là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông M vắng mặt, sau khi xét xử sơ thẩm ông M cũng không kháng cáo đối với phần trách nhiệm liên đới trả nợ của ông M. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bà T.
[2.3] Từ những căn cứ trên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà T, chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh.
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; các điều 27, 30, 37 Luật Hôn nhân và gia đình, các điều 24, 26, 29; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H đối với bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn M.
- Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H số tiền nợ gốc 410.000.000đồng và 105.517.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 515.517.000đồng.
Kể từ ngày ông Huỳnh Nguyễn Minh V, bà Võ Thị Ngọc H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T, ông M không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà T, ông M còn phải trả cho ông V, bà T số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
Buộc bà T, ông M phải liên đới chịu số tiền 24.620.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Huỳnh Nguyễn Minh V số tiền 10.250.000đồng theo biên lai thu số 0012314 ngày 17/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Tây Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà T đã theo biên lai thu số 0003045, ngày 15/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Hữu Nghĩa - Nguyễn Phước Thanh |
Trịnh Thị Phúc |
|
Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND Khu vực 12 –Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Phúc |
Bản án số 761/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 761/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Nguyễn Minh V tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nguyễn Thị T
