Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 26/9/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải

Ông Ngô Mạnh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh. Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2025 đối với bị cáo:

Dương Chí D, sinh năm 1997 (Tên gọi khác: Không)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn H, sinh năm 1977 (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1981; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ Lê Thị Khánh L, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2022;

Tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, Sơn La xử phạt D 18 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự. Ngày 01/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Bản án số 134/2019/HSST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong tòan bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam T, Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B.

- Bị hại:

  1. Anh Trương Đức N, sinh năm 2000; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Chị Phạm Thị Minh H1, sinh năm 2001; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Cùng địa chỉ: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, tỉnh Bắc Ninh

  4. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1992. Trú tại: Khu T, phường H, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Anh Đào Văn T2, sinh năm 1989. Trú tại: Trại P, xã M, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  6. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1999. Trú tại: Khu A, phường K, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  7. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2000. Trú tại: Thôn P, xã V, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 27/4/2025, D đón xe taxi nhãn hiệu Vinfat màu trắng, biển kiểm soát (BKS): 99A-807.26 của anh Trương Đức N đi từ Đại lộ T, thành phố Hà Nội đến khu vực Đ khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến nơi, D xuống xe rồi đi bộ quanh trước cửa 01 ngôi nhà đang đóng cửa phía trước xe taxi khoảng 5-10 phút rồi quay lại nói với N: “Điện thoại anh hết pin, cho anh mượn điện thoại để gọi cho vợ mở cửa nhà và lấy tiền trả tiền xe”. Nguyên tin lời D nói là thật nên đồng ý và đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xanh, gắn sim 0869.764.789 cho D mượn. D cầm điện thoại và ấn số điện thoại 0967.088.xxx gọi (là số sim điện thoại của D đã được D bật chế độ máy bay) rồi giơ điện thoại lên áp vào tai, nói chuyện để giả vờ như đang gọi điện thoại. Khoảng 1-2 phút sau, D trả lại điện thoại cho N và tiếp tục đi bộ quanh trước cửa ngôi nhà phía trước đầu xe ô tô của N. Tiếp đó, D quay lại gần vị trí của N, hỏi mượn điện thoại lần nữa để gọi điện thoại cho vợ. Anh N đồng ý, mở mật khẩu màn hình điện thoại và đưa cho D, D cầm điện thoại và tiếp tục gọi vào số 0967.088.444 rồi dơ điện thoại lên nói “Anh về đến nhà rồi” và nói nhiều câu “Ừ ừ” để cho anh N nghĩ rằng D đang nói chuyện điện thoại với vợ, vừa nói chuyện điện thoại D vừa đi bộ vào 01 ngõ nhỏ gần đó. Anh N nghĩ D cầm điện thoại theo để gọi điện thoại cho vợ nên không nghi ngờ mà vẫn ngồi đợi trên xe. D cầm điện thoại vừa chiếm đoạt được đi ra đường T, thuê 01 xe taxi khác (D không nhớ nhãn hiệu, biển số và lái xe) đi đến thành phố B vào 01 cửa hàng (D không xác định được tên cửa hàng và địa chỉ) để bán điện thoại. Khi xem điện thoại, chủ cửa hàng không đồng ý mua do điện thoại không có mật khẩu Icloud. D không bán được điện thoại, nảy sinh ý định sử dụng Zalo trên điện thoại của anh N để nhắn tin cho người thân của anh N chuyển tiền cho D. Sau đó, D vào ứng dụng Zalo của N, D giả danh là N nhắn tin cho vợ của anh N là chị Phạm Thị Minh H1 nhờ chuyển 4.000.000 đồng vào tài khoản M đăng ký tên “DUONG CHI DUNG” để chuyển tiền hộ khách. Chị H1 nghĩ người nhắn tin là anh N nên đồng ý và chuyển 4.000.000 đồng vào tài khoản của D. Tiếp đó, D sử dụng Zalo của anh N nhắn tin cho anh Nguyễn Văn C (bạn anh N) nhờ chuyển số tiền 1.200.000 vào tài khoản nêu trên của D, anh C nghĩ người nhắn tin là N nên đã chuyển số tiền 1.200.000 đồng vào tài khoản của D. Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 pro của N, do không bán được nên D đã đưa cho lái xe taxi tại cầu vượt Đ, tỉnh Bắc Ninh để trả lại cho anh N. Khi đưa, D nói với lái xe: “Cầm về khu vực phường P đưa cho bạn, khi nào có người gọi thì nghe, người nhận máy sẽ thanh toán tiền taxi”. Về phía anh N, sau khi phát hiện D chiếm đoạt điện thoại của mình, N kiểm tra định vị phát hiện điện thoại Iphone 11 pro của mình ở phường P nên đến và gặp lái xe taxi nêu trên nhận lại chiếc điện thoại trên. Số tiền 5.200.000 đồng D chiếm đoạt được của anh C và chị H1, D chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 29/4/2025, D thuê xe taxi của anh Trần Văn T1 đi từ khu vực gần Bệnh viện sản nhi tỉnh B đến khu vực Đ khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi, D nói dối với anh T1 rằng vừa đưa vợ vào bệnh viện để đẻ và đang về nhà lấy đồ cho vợ. Khi đến khu vực Đình Doi S, D bảo anh T1 dừng lại để vào nhà lấy đồ. D xuống xe đi đến trước cửa 1 ngôi nhà đang đóng cửa ở trong ngõ, đứng trước cửa khoảng 1-2 phút rồi quay lại nói với anh T1 không có ai mở cửa và hỏi mượn điện thoại của anh T1 để gọi bác đến bê đồ giúp, điện thoại của D đang hết tiền. Anh Tấn N1 là thật nên đồng ý và mở màn mật khẩu màn hình điện thoại S1 M55 rồi đưa cho D. Sau đó, D bấm số điện thoại 0967.088.xxx để giả vờ gọi, đồng thời nói với anh T1: “Để em vào nhà lấy đồ trước thì anh lùi xe vào trong ngõ để lát nữa sẽ bê đồ lên xe”. Khi anh T1 đang lùi xe vào trong ngõ, D cầm điện thoại của anh T1 giả vờ dơ lên gọi điện thoại rồi đi vào trong ngõ và đi ra đường TL 277, đón taxi của người không quen biết đến quán T4 thuê anh Nguyễn Văn T3 để phá khóa rồi đến một cửa hàng không rõ địa chỉ ở thành phố B bán được số tiền 3.500.000 đồng, số tiền này D chi tiêu cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được.

Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 07/5/2025, D thuê xe taxi nhãn hiệu Xanh SM Vinfast VF5, BKS: 98G-00.444 của anh Đào Văn T2 đi từ thôn D, xã K, tỉnh Hưng Yên đến khu vực Đ khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến nơi, D nói dối với anh T2 rằng điện thoại của D hết tiền và hỏi mượn điện thoại của anh T2 để gọi cho người nhà đến lấy chìa khóa mở cửa nhà, anh T2 tin là thật nên đồng ý rồi mở mật khẩu màn hình điện thoại điện thoại Xiaomi Redmi Note 11 màu xám, gắn sim số 0836.105.999 và bấm số 0967.088.444 do D đọc cho rồi đưa điện thoại cho D, D cầm điện thoại bấm gọi, giơ lên tai giả vờ nghe điện thoại rồi đi bộ vào ngõ gần đó. Anh T2 nghĩ D đi về nhà rồi sẽ quay lại nên không đi theo. D cầm điện thoại của anh T2 đi bộ ra đường TL277 đón xe taxi chở về phòng trọ ở khu vực dốc P, phường Đ, thành phố B. Tại đây, D bỏ điện thoại ra xem thì thấy có dấu mồ hôi trên màn hình là hình chữ Z, D nghĩ đây là mật khẩu màn hình khóa điện thoại nên thử và đã mở được điện thoại. Sau đó, D khôi phục cài đặt gốc điện thoại (xóa hết dữ liệu) rồi đến một cửa hàng không rõ địa chỉ ở thành phố B bán được số tiền khoảng 1.000.000 đồng, số tiền này D chi tiêu cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được.

Vụ thứ tư: Vào khoảng 17 giờ ngày 11/5/2025, D đón xe taxi nhãn hiệu Vinfast, BKS: 99E-008.27 của anh Nguyễn Tuấn A đi từ Trung tâm V, phường V đến khu vực Đ khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. D nói với anh Tuấn A để đón nhân viên bấm bài cho quán hát karaoke. Khi đến nơi, D bảo anh Tuấn A chở vào trong ngõ khoảng 10-15 mét để đợi D vào gọi nhân viên ra. D xuống xe đi sâu vào ngõ khoảng 2 phút sau thì quay lại và hỏi mượn điện thoại của anh Tuấn A để gọi cho nhân viên do điện thoại của D đang hết tiền, anh Tuấn A đồng ý và đưa cho D mượn 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu đen. D cầm điện thoại lên bấm số điện thoại 0967.088.xxx (số điện thoại của D đang bật chế độ máy bay) rồi giơ lên tai nghe và đi sâu vào trong ngõ. Anh Tuấn A1 nghĩ D mượn điện thoại vào để gọi nhân viên ra nên không nghi ngờ gì. D cầm điện thoại vừa chiếm đoạt được đi ngay ra đường TL 277 và đón xe taxi về phòng trọ tại dốc P, phường V, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, D đã bán điện thoại này cho 01 cửa hàng không rõ địa chỉ tại thành phố Hà Nội với giá 3.000.000 đồng, số tiền này D chi tiêu cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được.

Nhận thấy, hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không thể trốn tránh nên ngày 03/7/2025, D đã đến Công an phường T, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và giao nộp 03 sim điện thoại và 01 điện thoại Xiaomi 11T, gắn sim số 0967.088.444

Ngoài ra, D còn khai nhận với thủ đoạn tương tự D đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt 03 chiếc điện thoại khác của các lái xe taxi khác. Trong đó, có 01 chiếc điện thoại Xiaomi D đã chiếm đoạt của 01 lái xe taxi vào khoảng tháng 5/2025 sau đó bán cho anh Phạm Quang K ở cửa hàng T5 được số tiền 700.000 đồng. Anh K đã bán chiếc điện thoại trên cho người không quen biết. Cả ba vụ trên, D không xác định được thông tin về xe và người bị hại. Cơ quan điều tra ra thông báo truy tìm người bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả. Tài sản không thu hồi được.

Ngày 03/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nội dung tại bản sao kê tài khoản ngân hàng M1, số tài khoản 8856668997 đăng ký tên DUONG CHI DUNG có nội dung chuyển khoản liên quan đến việc anh Nguyễn Văn C và chị Phạm Thị Minh H1 chuyển khoản cho D. Ngày 07/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của anh Nguyễn Văn C có các nội dung liên quan đến việc anh C chuyển khoản 1.200.000 đồng cho D.

* Vật chứng thu giữ:

Ngày 03/7/2025, tại Công an phường T, D giao nộp 03 sim điện thoại và 01 điện thoại Xiaomi 11T, gắn sim số 0967.088.444;

Ngày 03/7/2025, tại thôn P, xã V, huyện Y, chị Phạm Thị Minh H1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 bản sao kê ngân hàng V1, số tài khoản 188794297 và 08 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh tin nhắn Zalo.

Ngày 19/8/2025, tại Công an phường T, anh Nguyễn Văn C giao nộp 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng số 0560155638781 ngân hàng M2 của anh C.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 28/7/2025 của Hội đồng định giá tàn sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: “01 điện thoại Iphone 11 Pro, màu xanh, dung lượng 256GB, tài sản đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 27/4/2025 là 6.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy M55, 5G, Ram H, dung lượng 256GB, Ram 8G, tài sản đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 29/4/2025 là 6.000.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu đen, dung lượng 256GB, tài sản đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 11/5/2025 là 8.500.000 đồng; 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 11, màu đen, ram 4G, dung lượng 64GB, tài sản đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 07/5/2025 là 2.500.000 đồng”. Tổng giá trị của 04 điện thoại di động là 23.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSKV ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã quyết định truy tố bị cáo Dương Chí D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, D thừa nhận do cần tiền chi tiêu cá nhân nên nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối thuê xe taxi chở đến khu vực Đ thuộc khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, nói dối lái xe taxi là điện thoại hết pin, hết tiền để lái xe cho mượn điện thoại gọi. Khi lái xe vẫn ngồi trên xe tin tưởng không để ý thì chiếm đoạt điện thoại bằng cách đi bộ từ từ vào 01 ngõ nhỏ lái xe ngồi trên xe không chú ý thì D đi ra đường tỉnh lộ 277 đón taxi khác đi tiêu thụ tài sản. Với thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ tháng 4/2025 đến tháng 5/2025, bị cáo D đã chiếm đoạt của 04 bị hại gồm Trương Đức N, Trần Văn T1, Đào Văn T2 và Nguyễn Tuấn A. Ngoài ra, D sử dụng Zalo trên máy điện thoại của anh N lừa đảo chiếm đoạt được số tiền 4.000.000 đồng của chị Phạm Thị Minh H1 và số tiền 1.200.000 đồng của anh Nguyễn Văn C. Tổng trị giá tài sản là 28.200.000 đồng, D đã tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định của cơ quan điều tra và không có ý kiến gì và xác định Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường như đã trình bày tại cơ quan điều tra, cụ thể: Anh Trương Đức N yêu cầu bị cáo trả tiền xe taxi là 200.000 đồng; chị Phạm Thị Minh H1 yêu cầu D trả 4.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo trả 1.200.000 đồng; Anh Trần Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo trả tiền xe taxi là 200.000 đồng; Anh Đào Văn T2 yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng; Anh Nguyễn Tuấn A yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt là 8.500.000 đồng và yêu cầu D trả tiền xe taxi là 400.000 đồng. Ngoài ra các bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Các bị hại yêu cầu xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại và không có ý kiến gì.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Chí D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Chí D từ 28 tháng đến 32 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2025.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại cụ thể như sau:
    • - Bồi thường cho anh Trương Đức N số tiền 200.000 đồng; bồi thường cho chị Phạm Thị Minh H1 số tiền 4.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 1.200.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Văn T1 số tiền 6.200.000 đồng; bồi thường cho anh Đào Văn T2 số tiền 2.500.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 8.900.000 đồng.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Trả lại cho bị cáo Dương Chí D 01 điện thoại Xiaomi 11T, gắn sim số 0967.088.444 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại
  5. Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 bản sao kê ngân hàng V1, số tài khoản 188794297 và 08 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh tin nhắn Zalo của chị Phạm Thị Minh H1 và 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng số 0560155638781 ngân hàng M2 của anh Nguyễn Văn C.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai các bị hại, người liên quan, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 27/4/2025, ngày 29/4/2025, ngày 07/5/2025 và ngày 11/5/2025, tại khu phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh, Dương Chí D do cần tiền chi tiêu cá nhân đã dùng thủ đoạn gian dối mượn điện thoại của các lái xe taxi để giả vờ gọi điện cho người thân rồi chiếm đoạt tài sản bằng cách khi lái xe ngồi trong xe, tin tưởng giao điện thoại cho D thì D đi bộ từ từ vào một ngõ nhỏ sau đi ra đường tỉnh lộ 277 đón xe taxi khác đi tiêu thụ tài sản. Tổng số tiền D lừa đảo chiếm đoạt được là 28.200.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết cụ thể như sau:

  • - Ngày 27/4/2025, D chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xanh trị giá 6.000.000 đồng của anh Trương Đức N. Sau đó, D sử dụng Zalo trên máy điện thoại của anh N lừa đảo chiếm đoạt được số tiền 4.000.000 đồng của chị Phạm Thị Minh H1 và số tiền 1.200.000 đồng của anh Nguyễn Văn C. Tổng trị giá tài sản là 11.200.000 đồng.
  • - Ngày 29/4/2025, D chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galay M55, màu đen trị giá 6.000.000 đồng của anh Trần Văn T1
  • - Ngày 07/5/2025, D chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, màu đen trị giá 2.500.000 đồng của anh Đào Văn T2.
  • - Ngày 11/5/2025, D chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, màu đen trị giá 8.500.000 đồng của anh Nguyễn Tuấn A.

Hành vi của bị cáo Dương Chí D đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, tạo ra tâm lý bất an trong nhân dân. Bản thân bị cáo đã 02 lần bị xét xử trong đó có 01 bản án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, trong khoảng thời gian từ ngày 27/4/2025 đến ngày 11/5/2025 bị cáo đã thực hiện 04 lần phạm tội để chiếm đoạt tài sản của 06 bị hại. Do vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g và h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị hại đều có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cụ thể: Anh Trương Đức N yêu cầu trả tiền thuê xe là 200.000 đồng; chị Phạm Thị Minh H1 yêu cầu trả lại số tiền 4.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn C yêu cầu trả lại số tiền 1.200.000 đồng; anh Trần Văn T1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.200.000 đồng; anh Đào Văn T2 yêu cầu bồi thường số tiền 2.500.000 đồng; anh Nguyễn Tuấn A bồi thường số tiền 8.900.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại, do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại .

[6] Về vật chứng:

[6.1] Đối với 03 sim điện thoại là các sim lắp trong máy điện thoại mà bị cáo chiếm đoạt không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Xiaomi 11T, gắn sim số 0967.088.444 mà bị cáo D giao nộp tại cơ quan điều tra là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6.2] Đối với 01 bản sao kê ngân hàng V1, số tài khoản 188794297 và 08 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh tin nhắn Zalo của chị Phạm Thị Minh H1 và 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng số 0560155638781 ngân hàng M2 của anh Nguyễn Văn C, xét thấy đây là vật chứng của vụ án nên cơ quan điều tra đã lưu giữ theo hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.

[7] Đối với Nguyễn Văn T3 có hành vi phá khoá mật khẩu và mua lại điện thoại do D chiếm đoạt được; Phạm Quang K có hành vi mua lại điện thoại do D chiếm đoạt được. Quá trình điều tra xác định, T3 và K không biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do D phạm tội mà có, D nói dối là điện thoại của D nên không có căn cứ để xử lý đối với T3 và K. Cơ quan điều tra đã giáo dục, nhắc nhở đối với T3 và K là phù hợp.

[8] Đối với người lái taxi trả điện thoại cho anh N, những người mua điện thoại của D, chưa xác định được là ai, ở đâu. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác khi nào làm rõ để nghị xử lý sau là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Chí D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g,h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Dương Chí D 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2025.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Dương Chí D phải bồi thường cho anh Trương Đức N số tiền 200.000 đồng; bồi thường cho chị Phạm Thị Minh H1 số tiền 4.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 1.200.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Văn T1 số tiền 6.200.000 đồng; bồi thường cho anh Đào Văn T2 số tiền 2.500.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 8.900.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Nếu không thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    3.1 Trả lại cho bị cáo Dương Chí D 01 điện thoại Xiaomi 11T, gắn sim số 0967.088.444;

    3.2 Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Dương Chí D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 7 – Bắc Ninh;
  • - Phân trại tạm giam Từ Sơn;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Chí D Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger