Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 724/2025/DS-PT

Ngày: 03-12-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Thiện Tâm

2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 529/2025/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 602/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1973. Cư trú tại: số B, Lô D, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiệp A, sinh năm: 1988. Địa chỉ: E đường C, khu phố B, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 11 năm 2025).

  3. Bị đơn:
    1. Ông Võ Văn M, sinh năm: 1968;
    2. Bà Phạm Thị K, sinh năm: 1977.
  4. Cùng địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp C, xã P, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền cho ông M và bà K: ông Đặng văn N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Khu phố D, phường T, tỉnh Tây Ninh (theo các văn bản ủy quyền ngày 12 tháng 11 năm 2025 và ngày 29 tháng 11 năm 2025).

3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ngày 25 tháng 12 năm 2021, giữa ông Nguyễn Hữu T với ông Võ Văn M, bà Phạm Thị K có ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để ông M, bà K chuyển nhượng cho ông T một phần thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 1.000m². Địa chỉ: xã P, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: xã P, huyện C, tỉnh Long An) giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng. Do đất lúc này mẹ ông M còn đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ nên các bên có thỏa thuận viết tay trên dòng bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ ngày 25 tháng 12 năm 2021, thể hiện khi hồ sơ thủ tục nhận thừa kế cho ông Võ Văn M xong sẽ tiến hành thủ tục chuyển cho bên mua trong thời gian sớm nhất và các bên đều đồng ý.

Cùng thời gian khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 25 tháng 12 năm 2021, ông T đã giao cho ông M, bà K số tiền cọc 400.000.000 đồng. Thời hạn để các bên ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là 100 ngày, tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2021, ông T sẽ thanh toán số tiền còn lại 2.000.000.000 đồng cho ông M, bà K. Nếu quá hạn mà ông T không ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông T mất tiền đặt cọc 400.000.000 đồng. Nếu ông M, bà K không ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải trả lại cho ông T số tiền cọc 400.000.000 đồng và phải bồi thường cho ông T một khoản tiền tương đương 04 lần số tiền đặt cọc là 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, do giấy chứng nhận QSDĐ ông M chưa đứng tên nên các bên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng trong thời hạn 100 ngày. Ngày 23 tháng 6 năm 2022, ông Võ Văn M đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ, phía ông M có báo cho ông T biết cùng ông M, bà K đi làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng diện tích đất 1.000m², thuộc một phần đất 673 cho ông T. Ông T có hỏi ông T1 người môi giới đất về thủ tục tách thửa để ký hợp đồng chuyển nhượng, ông T1 cho biết đất đó có quy hoạch chưa cho tách thửa, ngày 27 tháng 6 năm 2022, ông T có đến nhà ông T1, tại nhà ông T1 có ông T và ông M, bà K thì ông T1 có ghi một tờ giấy tay thể hiện ông M, bà K hứa với ông T khi nào nhà nước cho tách thửa hoặc làm thủ tục ủy quyền thì vợ, chồng ông M ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Sau khi ông T1 viết xong tờ giấy, ông T1 có đọc nội dung cho vợ, chồng ông M, bà K nghe thì ông M không đồng ý mà bỏ về nhà. Sau đó, bà K có gọi con bà K là Võ Thành Thông Q nghe lại biên bản rồi ký tên. Một thời gian sau do nghe được Cán bộ địa chính xã P cho biết thửa đất 673, đã được tách thửa theo quy định của pháp luật nên ông T có điện thoại cho bà K thì bà K yêu cầu ông T điện thoại cho ông M thì ông M không nghe. Khi ông T đến nhà gặp vợ, chồng ông M, bà K để yêu cầu tiếp tục ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì vợ, chồng ông M không đến công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng, mà nêu ra lý do đã hết thời hạn như các bên thỏa thuận.

Theo khởi kiện ban đầu ông T yêu cầu ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K tiếp tục thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu T một phần thửa đất 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 1.000m²; địa chỉ đất: Xã P, huyện C, tỉnh Long An. Trong quá trình Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Hữu T có thay đổi nội dung khởi kiện là yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K phải trả cho ông Nguyễn Hữu T số tiền cọc 400.000.000 đồng và bồi thường cho ông T một khoản tiền tương đương 04 lần số tiền đặt cọc x 400.000.000 đồng = 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu T rút yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu bồi thường 04 lần số tiền đặt cọc 1.600.000.000 đồng.

Bị đơn ông Võ Văn M trình bày: Ngày 25 tháng 12 năm 2021, giữa ông Võ Văn M, bà Phạm Thị K với ông Nguyễn Hữu T có ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để ông M, bà K chuyển nhượng cho ông T một phần thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 1.000m²; địa chỉ đất: xã P, huyện C, tỉnh Long An với giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng. Thời gian ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ ngày 25 tháng 12 năm 2021 thì thửa đất số 673 bà Đặng Thị B mẹ ông T (chết năm 2019) còn đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ nên các bên có thỏa thuận viết tay trên dòng bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ ngày 25 tháng 12 năm 2021, thể hiện khi hồ sơ thủ tục nhận thừa kế cho ông Võ Văn M xong sẽ tiến hành thủ tục chuyển cho bên mua là ông T trong thời gian sớm nhất và các bên đều đồng ý.

Theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ còn thể hiện nếu quá hạn mà ông T không ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông T mất tiền đặt cọc 400.000.000 đồng. Nếu vợ, chồng ông M, bà K không ra công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải trả lại cho ông T số tiền cọc 400.000.000 đồng và bồi thường cho ông T một khoản tiền tương đương 04 lần số tiền đặt cọc là 1.600.000.000 đồng. Do ông L (ông T1) làm thủ tục thừa kế quá lâu, giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 673 ông M chưa được đứng tên nên các bên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng trong thời hạn 100 ngày. Sau khi, ông Võ Văn M đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ, thì phía ông T có báo cho phía ông M biết đi làm thủ tục tách thửa đất để chuyển nhượng một phần thửa đất 673 cho ông T. Khi vợ, chồng ông M, bà K yêu cầu ông T đến công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì vợ, chồng ông M được ông T cho biết đất đó chính quyền chưa cho tách thửa để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được. Ngày 27 tháng 6 năm 2022, ông T có yêu cầu vợ, chồng ông M, bà K đến nhà ông T1 để ông T1 viết giấy tay ghi lời hứa của bên chuyển nhượng. Tại nhà ông T1 có vợ, chồng ông M, bà K và ông T, cùng ông T1 có ghi một tờ giấy tay thể hiện ông M, bà K hứa với ông T khi nào nhà nước cho tách thửa hoặc thủ tục ủy quyền thì vợ, chồng ông M ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Sau khi ông T1 viết tờ giấy ngày 27 tháng 6 năm 2022, ông M cho rằng do đất thừa kế của mẹ để lại cho ông M và đã hết thời hạn thỏa thuận nên ông M không đồng ý ký mà bỏ về.

Từ lúc bà K và ông T2 ký tên vào giấy ngày 27 tháng 6 năm 2022, cho đến khoảng tháng 7 năm 2023, ông T có điện thoại yêu cầu vợ, chồng ông M, bà K đến Văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng một phần thửa đất 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 1.000m² thì vợ, chồng ông M, bà K không đồng ý mà yêu cầu ông T xuống nhà ông M làm lại giấy thỏa thuận, ông T không đồng ý. Do đến hạn ông T không đến công chứng để cùng vợ, chồng ông M, bà K thực hiện việc chuyển nhượng một phần thửa đất 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 1.000m²; địa chỉ đất: Xã P, huyện C, tỉnh Long An nên ông T là người vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, số tiền 400.000.000 đồng mà ông T đã đặt cọc thuộc về phía vợ, chồng ông M, bà K. Ngoài ra, ông Võ Văn M còn cho biết trong số diện tích 1.000m², thuộc một phần thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa mà ông M, bà K đặt cọc chuyển nhượng cho ông T thì có 18m², thuộc quy hoạch đường T - L.

Người làm chứng: ông Nguyễn Quốc T1 (tên gọi khác L) thì ông T1 trình bày: Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25 tháng 12 năm 2021, được ký giữa ông T với ông Võ Văn M, bà Phạm Thị Kiều M1 hợp đồng mà những chữ đánh máy thì đã có sẵn trước đó ông T1 photo ra, những chỗ nào viết tay trong hợp đồng là do ông T1 viết bên chuyển nhượng ông M, bà K, còn bên nhận chuyển nhượng ông T. Các bên có biết nội dung hợp đồng nên đã đồng ý ký, ghi họ và tên, ký cả giáp lai từng trang. Do vợ, chồng ông M có thuê ông T1 làm dịch vụ thủ tục thừa kế từ đất mẹ của ông M chết để lại, sau khi thủ tục thừa kế xong thì ông T1 cũng sẽ làm thủ tục chuyển nhượng đất giữa ông T với vợ, chồng ông M, bà K. Do thủ tục làm thừa kế lâu đến ngày 26 tháng 6 năm 2022, ông T1 mới nhận được giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa do ông Võ Văn M đứng tên ngày 23 tháng 6 năm 2022. Sau khi nhận được giấy chứng nhận QSDĐ ông M đứng tên thì ông T1 có báo cho bên ông M, cũng như bên ông T biết thửa đất 673, trong thời gian này nhà nước không cho tách thửa đất mới có diện tích 1.000m² được. Ngày 27 tháng 6 năm 2022, ông T1 có báo cho vợ, chồng ông M, bà K và ông T đến nhà ông T1 để ông T1 ghi một tờ giấy tay thể hiện ông M, bà K hứa với ông T khi nào Nhà nước cho tách thửa hoặc thủ tục ủy quyền thì vợ, chồng ông M ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng với ông T không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Sau khi ông T1 viết tờ giấy ngày 27 tháng 6 năm 2022, ông T1 có đọc lại cho vợ, chồng ông M, bà K và ông T nghe, sau khi nghe xong ông M bỏ về, bà K gọi con bà K là ông Võ Thành T2 đến kiểm tra lại biên bản và đồng ý ký thay cho ông M. Ký xong thì ông T1 trả lại bản chính giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa đứng tên ông Võ Văn M cho bà K.

Tại Bản án dân sự số 24/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh đã tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Võ Văn M, bà Phạm Thị Kiều .

  1. Buộc ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K liên đới trả cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 400.000.000 đồng.
  2. Đình chỉ đối với phần ông Nguyễn Hữu T yêu cầu ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K phải bồi thường tiền đặt cọc cho ông Nguyễn Hữu T là 1.600.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ cấp thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 03/9/2025, ông Võ Văn M có kháng cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo và giữ nguyên ý kiến trình bày của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp thêm chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn M. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của ông Võ Văn M làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: ông Võ Văn M kháng cáo yêu cầu yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng sự, chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo của ông Võ Văn M.

[2.1] Xét thấy: ông Nguyễn Hữu T và ông Võ Văn M, bà Phạm Thị K xác định ngày 25/12/2021, các bên có ký hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại một phần thửa đất số 673, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, diện tích 1.000m², đất tọa lạc tại xã P, tỉnh Tây Ninh với giá chuyển nhượng 2.400.000.000 đồng. Thời gian ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì chủ quyền đất vẫn còn bà Đặng Thị B mẹ ông M đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ, nên các bên có thỏa thuận viết tay trên dòng bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ, thể hiện khi nào hồ sơ thủ tục nhận thừa kế cho ông Võ Văn M xong sẽ tiến hành thủ tục chuyển nhượng cho bên mua trong thời gian sớm nhất và đã được các bên đồng ý.

[2.2] Ngay khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 25/12/2021 ông T đã giao cho vợ, chồng ông M số tiền đặt cọc 400.000.000 đồng, việc này vợ chồng ông M thừa nhận đã nhận 400.000.000đồng. Theo thỏa thuận thời hạn để các bên ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là 100 ngày, tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2021 thì ông T sẽ thanh toán số tiền còn lại 2.000.000.000 đồng cho vợ, chồng ông M. Quá hạn mà ông T không ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông T mất tiền đặt cọc 400.000.000 đồng. Nếu vợ, chồng ông M, bà K không ra công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải trả lại cho ông T số tiền cọc 400.000.000 đồng và bồi thường cho ông T số tiền cọc 04 lần là 1.600.000.000 đồng. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông M chưa đứng tên nên các bên chưa đến công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 100 ngày theo thỏa thuận. Các bên đã thỏa thuận gia hạn lại khi nào hồ sơ thủ tục nhận thừa kế cho ông Võ Văn M xong sẽ tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng cho ông M. Ngày 23 tháng 6 năm 2022, ông M đã được đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, với diện tích 2.320m². Sau khi ông M được đứng tên vào ngày 23/6/2022, thì toàn bộ khu vực, bao gồm thửa đất 673, rơi vào diện tạm dừng thực hiện thủ tục đất đai theo Công văn 3686/UBND-KTTC và Công văn 3897/UBND-KTTC của UBND tỉnh L. Việc tạm dừng này là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có hiệu lực toàn tỉnh và mang tính bắt buộc, khiến cho mọi giao dịch liên quan đến chuyển nhượng đất tại khu vực này đều không thể thực hiện.

[2.3] Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm ông M cho biết 18m² trong 1.000m² mà ông M, bà K chuyển nhượng cho ông T bị nằm trong quy hoạch đường T, xã L. Công văn số 5635/UBND - NC ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện C thì một phần thửa đất số 673, tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, diện tích 18m² là thuộc quy hoạch đường T, L (đoạn từ vành đai 4, ĐT.830) được Ủy ban nhân dân tỉnh L chấp nhận chủ trương tại Thông báo số 862/TB-UBND ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L và có trong kế hoạch sử dụng đất đến năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện C.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều xác định diện tích đất hai bên thỏa thuận chuyển nhượng hiện tại không còn, do quá trình các bên tranh chấp đất này tiếp tục bị quy hoạch giải tỏa, ông M đã nhận tiền đền bù xong. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K với ông Nguyễn Hữu T không tiếp tục thực hiện được là do yếu tố khách quan, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T. Buộc ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K có trách nhiệm liên đới trả lại 400.000.000 đồng tiền đặt cọc cho ông Nguyễn Hữu T là phù hợp và có căn cứ. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn M.

[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Văn M phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn M.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 266, Điều 271, Điều 227, Điều 228 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 328 của Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Võ Văn M, bà Phạm Thị Kiều .

  1. Buộc ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K liên đới trả cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
  2. Đình chỉ đối với phần ông Nguyễn Hữu T yêu cầu ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K phải bồi thường tiền đặt cọc cho ông Nguyễn Hữu T là 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng).
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Văn M và bà Phạm Thị K phải chịu 20.000.000đồng. (Hai mươi triệu đồng).
  4. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hữu T số tiền tạm ứng án phí 36.600.000 đồng, mà ông Nguyễn Hữu T đã nộp tại biên lai thu số 0013176 ngày 16 tháng 7 năm 2024, biên lai thu số 0000459 ngày 13 tháng 5 năm 2024 và biên lai thu số 0000460 cùng ngày 13 tháng 5 năm 2024, cùng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – tỉnh Tây Ninh).

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Văn M phải phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003764 ngày 03/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Tây Ninh.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.

Nơi nhận:

-TAND tối cao tại TP.HCM;

-VKSND tỉnh Tây Ninh;

- TAND khu vực 7 - Tây Ninh;

- Phòng THADS khu vực 7 - Tây Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 724/2025/DS-PT ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 724/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên án ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger