Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 689/2025/DS-PT

Ngày: 18 - 12 - 2025

V/v: Tranh chấp về xác định lối đi chung

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa;

- Các Thẩm phán:

Ông Dương Tuấn Vinh;

Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng R - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2025/TLPT- DS ngày 01 tháng 10 năm 2025, về “Tranh chấp về xác định lối đi chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 764/2017/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2017, của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2195/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tô Thị L, sinh năm 1946; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị G, sinh năm 1948; Địa chỉ: tổ D, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị G: Luật sư Bùi Trọng H-Công ty L8;

Địa chỉ: Số B Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).

2

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 3.1. Ông Tô M, sinh năm 1930, chết năm 1975.

    Ông Tô M và vợ là bà Trần Thị C (1933 - 1980) có 05 (năm) người con, gồm các ông, bà: Tô Thành Đ, Tô Ngọc K, Tô Ngọc T, Tô Thị N và Tô Thị M1. Cùng địa chỉ liên lạc: Tổ E T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk (nay là phường T, Đắk Lắk).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà Tô Ngọc T, Tô Thị N: Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  2. 3.2. Ông Tô T1, sinh năm 1930, chết năm 1993.

    Ông T1 và vợ là bà Trần Thị T2 (1927 - 1981) có 08 (tám) người con, gồm các ông, bà: Tô Thị K1, Tô Thị A, Tô Văn B, T, Tô Thị G1, Tô Thị Ngọc L1, Tô Thị Ngọc V, Tô Thị Ngọc H1. Địa chỉ: 4 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Phường G, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà Tô Thị K1, Tô Thị A, Tô Văn B, Tô Bình M2 Tô Thị G1 Tô Thị Ngọc L1 Tô Thị Ngọc V Tô Thị Ngọc H1 Bà Tô Thị Ú sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. 3.3. Ông Tô T3, sinh năm 1932, chết năm 2009.

    Ông T3 có vợ là bà Nguyễn Thị C1 (1932 – 2009), có 04 (bốn) người con, gồm các ông, bà: Tô Thị H2, Tô Thị T4(T5), Nguyễn Thị H3, Tô Văn T6. Địa chỉ: 9 khu phố D, thị trấn H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà Nguyễn Thị H3, Tô Văn T6: Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  4. 3.4. Ông Tô Bình H4, sinh năm 1936, chết năm 1978

    Ông H4 và vợ là bà Nguyễn Thị M3, có 08 (tám) người con, gồm các ông, bà: Tô Thanh S, Tô Thanh H5, Tô Thị Thanh V1, Tô Thanh P, Tô Thị Thanh P1, Tô Thanh T7, Tô Thanh Đ1 và Tô Thanh P2. Địa chỉ liên lạc: A X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).

  5. 3.5. Ông Tô Văn V2, sinh năm 1935, chết năm 1984

    Ông V2 và vợ là bà Trần Thị L2, sinh năm 1940. Có 05 (năm) người con chung, gồm các ông bà: Tô Minh P3, Tô Thị Tuyết L3, Tô Minh Đ2, Tô Minh Q, Tô Minh P4. Địa chỉ liên lạc: 96/1/4 P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà Trần Thị L2, Tô Minh Đ2, Tô Minh Q: Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  6. 3.6. Ông Tô D, sinh năm 1939, chết năm 1998.

    Ông D có vợ là bà Mai Thị M4, chết không rõ thời gian. Có 01 (một) người con là Tô Hồng L4, sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ H, Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Xã C, Thành phố Hồ Chí Minh).

  7. 3.7. Bà Tô Thị K2, sinh năm 1938, chết năm 2007

    Bà K2 và chồng là ông Trần T8; có 06 (sáu) người con chung là: Van Tan, Nhu T9, D, Anh N1, Ben T10 và Thanh T11. Địa chỉ: C C, St D, V, Australia. Địa chỉ liên lạc: Ông Trần Tấn V3, 2 tổ E khu phố F, thị trấn H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  8. 3.8. Bà Tô Mỹ T12, sinh năm 1942, chết năm 1986

    Bà T12 có chồng là ông Huỳnh Thanh V4, sinh năm 1942 và có 11 (mười một) người con chung, gồm các ông bà: Huỳnh Thu M5, Huỳnh Thu L5, Huỳnh Thu C2, Huỳnh Thu H6h Thu H7, Huỳnh Thu M6, Huỳnh Thu C3, Huỳnh Thu T13, Tô Vĩnh L6, Huỳnh Vĩnh P5, Huỳnh Vĩnh L7; Địa chỉ liên lạc: 55/3 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà Huỳnh Thu M5, Huỳnh Thu L5, Huỳnh Thu H6, Huỳnh Thu M6, Huỳnh Thu C3, Huỳnh Thu T13, Tô Vĩnh L6: Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

  9. 3.9. Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1944, chết năm 1979; Bà Ú không có chồng con.

  10. 3.10. Ông Tô Văn D1, sinh năm 1940, chết năm 2007;

    Ông D1 có vợ là bà Trần Thị G2 (Là bị đơn) và có 03 (ba) người con chung, gồm các ông bà: Tô Ngọc H8, Tô Thị Ngọc H9, Tô Thanh V5. Địa chỉ: A đường G, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Xã A, Thành phố Hồ Chí Minh).

  11. 3.11. Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957; Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị G.

(Tại phiên tòa phúc thẩm, có mặt: bà Tô Thị Ú, bà Tô Thị G3, Luật sư Bùi Trọng H, ông Tô Ngọc T; các đương sự khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ông Tô H10 (chết năm 1979) và bà Lưu Thị H11 (1909-1976) có 12 người con chung gồm:

  1. Ông Tô M, chết năm 1975;
  2. Ông Tô T1, chết năm 1993;
  3. Ông Tô T3, chết năm 2009;
  4. Ông Tô Bình H4, chết năm 1978;
  5. Ông Tô Văn V2, chết năm 1984;
  6. Ông Tô D, chết năm 1998;
  7. Bà Tô Thị K2, chết năm 2007;
  8. Bà Tô Mỹ T12, chết năm 1986;
  9. Bà Tô Thị Ú, chết năm 1979;
  10. Bà Tô Thị L, sinh năm 1946 (nguyên đơn);
  11. Ông Tô Văn D1, chết năm 2007 (có vợ là bà Trần Thị G, bị đơn);
  12. Bà Tô Thị Ú, sinh năm 1957.

Bà Tô Thị L trình bày diện tích 4.681,1m² thửa số 40, tờ bản đồ số 14 theo tài liệu đo đạc của Ủy ban nhân dân xã A năm 2004) là của ông Tô H10 và bà Lưu Thị H11 mua từ năm 1944. Cả gia đình sinh sống và quản lý, sử dụng diện tích đất này. Năm 1976, bà H11 chết; năm 1979 ông H10 chết, cả 2 người chết không để lại di chúc. Các con của ông H10, bà H11 tiếp tục quản lý sử dụng đất.

Trong khoảng thời gian từ năm 1976 đến năm 2006, ông Tô T1, ông Tô T3, bà Tô Mỹ T12 và ông Tô Văn D1 quản lý, sử dụng đất. Sau đó, ông T1, ông T3 và bà Tiên D2 đi chỗ khác nên chỉ còn lại vợ chồng ông D1, bà G quản lý, sử dụng.

Năm 2007, ông Tô Văn D1 chết, vợ ông D1 là bà Trần Thị G tiếp tục quản lý sử dụng đất cho đến nay. Phía sau khu đất có phần đất dùng làm nơi chôn cất những người trong gia đình. Hiện có 15 ngôi mộ của thân tộc, phần còn lại dùng để chôn cất các con cháu của ông H10, bà H11 khi qua đời.

Do bà Trần Thị G cản trở không cho các con cháu của ông H10, bà H11 vào phần đất thổ mộ, nên có tranh chấp xảy ra. Hiện lối đi vào phần đất thổ mộ đã có sẵn nhưng phía bà G ngăn cản.

Bà L khởi kiện Tòa án yêu cầu: Xác định lối đi có kích thước chiều ngang 3,96m và chiều dài từ ngoài đường vào đến khu đất thổ mộ là lối đi chung, để thuận tiện trong việc thăm viếng, chăm sóc mồ mả của dòng họ và gia đình.

Bị đơn trình bày: Phần đất tranh chấp là tài sản do cha mẹ ông Tô Văn D1 tạo lập, nhưng bà và ông D1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Bà có người chồng là liệt sỹ trước khi sống với ông D1, nên năm 2002 bà được Nhà nước xây cho căn nhà tình thương trên đất. Năm 2007, ông D1 mất thì đây là tài sản của gia đình bà, nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị L.

Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu giống yêu cầu của bà L.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 764/2017/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  • Áp dụng Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Áp dụng khoản 2 Điều 166, Khoản 3 Điều 100 của Luật đất đai năm 2013;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;
  • Áp dụng Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị L.
  2. Xác định phần đất thuộc một phần thửa 40, tờ bản đồ số 14, Bộ Địa chính xã A, huyện C (Theo tài liệu đo năm 2004), Theo Bản đồ hiện trạng vị trí, do Chi nhánh Công ty TNHH Đ3 san lấp mặt bằng Đất Thép, lập ngày 03/12/2010, đã được Phòng Tài nguyên và Môi trường Ủy ban nhân dân huyện C kiểm tra nội nghiệp về hình thể, kích thước, diện tích; Đứng từ ngoài đường 746 nhìn vào nằm phía bên tay phải (có lối đi hiện hữu vào khu đất nghĩa địa phía sau) có kích thước chiều ngang phía trước 3,96m; chiều ngang phía sau 3,99m; chiều dài từ ngoài đường vào đến khu đất thổ mộ có kích thước, bên phải: 63,51m; bên trái: 61,27m; là lối đi chung.
  3. Tất cả các đương sự phải chấp hành các quy định về phần đất là lối đi chung vào khu nghĩa địa cũng như phần đất nghĩa địa, theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Tại đơn kháng cáo ngày 18 tháng 8 năm 2017, bị đơn bà Trần Thị G kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bà G trình bày quan điểm: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà G đồng ý mở lối đi cho khu mộ nhưng mở sang bên trái, chiều ngang, chiều dọc là theo ý của bị đơn và phần lối đi này vẫn thuộc quyền sở hữu của bị đơn, chỉ cho đi nhờ ra khu mộ.

Luật sư trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà G là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, tuy nhiên do hoàn cảnh gia đình nên chưa thực hiện việc làm giấy chứng nhận theo quy định. Việc bà L đi khởi kiện, trong khi bà L không có nhà đất tại khu đất tranh chấp, trong khu mộ cũng không có mộ phần của cha mẹ, chồng con của bà L, nên bà L không có quyền khởi kiện trong vụ án này. Việc nguyên đơn yêu cầu mở lối đi trên đất của bà G làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Bà Tô Thị Ú trình bày quan điểm: Không đồng ý chuyển lối đi ra khu mộ vì phía bên trái là ao, hơn nữa nếu không được công nhận quyền sử dụng độc lập thì nếu bị đơn bán đất sẽ không còn lối đi ra mộ; đồng thời bà G chưa chắc đã được công nhận quyền sử dụng phần đất mà bà G đang sử dụng. Bà L là con của cụ H10 và cụ H11, nên bà L có quyền khởi kiện vụ án này. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà G; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý, cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị L là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn bà G kháng cáo nhưng không cung cấp được các tài liệu chứng cứ mới, làm căn cứ để sửa bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

  • [1.1]. Đơn kháng cáo của bà Trần Thị G là hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • [1.2]. Về những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt một số đương sự nhưng người đại diện theo ủy quyền đã có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Xét việc vắng mặt của những đương sự này không ảnh hưởng đến việc xét kháng cáo của người kháng cáo. Do đó, căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị G:

  • [2.1]. Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:

Tại Tờ bán đứt một sở đất, ngày 15/4/1958 có chứng nhận của chính quyền chế độ cũ (do nguyên đơn cung cấp), thể hiện: Bà Lưu Thị H11 có tạo lập thửa đất diện tích 0 mẫu 53.60 thuộc tờ bản đồ số 128; Địa bộ cũ 1323, xã A.

Tại Quyết định số 3645/QĐ-UB ngày 01/11/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện: Bà Trần Thị G được sở hữu căn nhà tình nghĩa trên đất có nguồn gốc của bà Lưu Thị H11 tạo lập, tại địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C do

Trung tâm Thương mại D3, Thành phố Hồ Chí Minh xây tặng vì bà G là vợ liệt sĩ (Chồng trước của bà G).

Tại Biên bản giải quyết việc tranh chấp đất trong thân tộc ngày 24/9/2009 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C: bà Trần Thị G thừa nhận nguồn gốc đất gia đình bà hiện đang sử dụng có nguồn gốc là do cha mẹ của ông Tô Văn D1 (là chồng của bà G) cho vợ chồng bà G từ năm 1978; có lối đi vào phần đất nghĩa địa phía sau của thân tộc.

Do đó, có cơ sở xác định nguồn gốc diện tích đất 4.618,1m² thửa số 40, tờ bản đồ số 14 hiện nay là của bà Lưu Thị H11 mua từ năm 1958.

Các đương sự đều thừa nhận gia đình bà Trần Thị G quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp từ năm 1978 đến nay. Và hiện tại trên đất có phần đất nghĩa địa có khoảng 15 (mười lăm) ngôi mộ, trong đó có mộ của cha mẹ ông H10 (ông bà nội của nguyên đơn); các con cháu ông H10, bà H11.

  • [2.2]. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 03/12/2010 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C và Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 04/6/2014 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện: Từ ngoài đường G nhìn vào thì phía bên tay phải có lối đi hiện hữu vào khu đất nghĩa địa phía sau.

Xét thấy, như đã phân tích tại mục [2.1], toàn bộ diện tích đất có nguồn gốc do bà Lưu Thị H11 (là mẹ của nguyên đơn), chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu của bà L về việc xác định lối đi vào khu đất nghĩa địa phía sau là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật, là có căn cứ. Bà L là con của ông H10 và bà H11 nên có quyền khởi kiện đối với vụ án này.

  • [2.3]. Tại Biên bản hòa giải ngày 24/9/2003 (BL số 159) và Biên bản hòa giải ngày 01/7/2009 (BL số 157) thể hiện Ủy ban nhân dân xã A đã hòa giải đối với tranh chấp giữa các đương sự.
  • [2.4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trình bày diện tích đất tranh chấp không thay đổi; bị đơn đồng ý mở lối đi vào khu mộ nhưng về phía bên tay trái, ý kiến của bị đơn không được phía nguyên đơn chấp nhận vì cho rằng phía bên trái là ao; các đương sự không yêu cầu đo vẽ, thẩm định, định giá lại, hơn nữa quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất không có giá ngạch nên không ảnh hưởng đến án phí. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp.
  • [2.5]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị L, là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn bà G kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ sửa bản án sơ thẩm theo yêu cầu của bà G. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà; cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

[3]. Quan điểm của nguyên đơn, là có căn cứ.

[4]. Đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, được chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà Trần Thị G phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng do bà Trần Thị G là người cao tuổi, có xin miễn nộp tiền án phí phúc thẩm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà G thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà G.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; Điều 270; Điều 293; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị G.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 764/2017/DS-ST ngày 27/6/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp về xác định lối đi chung” giữa nguyên đơn bà Tô Thị L với bị đơn bà Trần Thị G.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị G được miễn.

Hoàn trả cho bà Trần Thị G số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà G đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0047560 ngày 30/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện CT&KSXXPT tại TP.HCM;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP (TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hòa

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 689/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về xác định lối đi chung

  • Số bản án: 689/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger