Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 664/2025/HS-PT

Ngày: 16/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

Các thẩm phán: Bà Đào Thị Kiều Vân

Bà Phạm Thị Xuân Đào

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 447/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Huệ T do có kháng cáo của đại diện gia đình bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 106/2025/HS-ST ngày 12/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc - Đồng Nai

Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Huệ T, sinh năm 1959, tại Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu K (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị S (đã chết); Vợ: Hồ Thị Ngọc Y, sinh năm 1959, có 04 con lớn nhất sinh năm 1977 và nhỏ nhất sinh năm 1986; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Anh Lưu Phương L (đã chết)

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, nay là xã X, tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện theo ủy quyền:

Anh Lưu Phương V sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Nguyễn Văn Q, Văn phòng L1, Đoàn Luật sư T4 (có mặt).

- Người làm chứng: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, nay là xã X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng điện để phục vụ bơm nước canh tác lúa nên vào năm 2018, Nguyễn Huệ T đã thuê mướn người (không xác định được nhân thân, lai lịch) kéo dây điện từ trụ điện Hạ thế của gia đình T ra ruộng lúa tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 64 thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nhằm chạy máy bơm điều tiết nước trong ruộng lúa. Quá trình kéo dây, T xin mắc chung dây điện vào cột kim loại tại thửa ruộng bên cạnh của ông Ngô Văn N, cư trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi tự câu nối điện, T sử dụng bình thường và cho rằng việc tự câu nối điện (không thông qua cơ quan Điện lực) sẽ không gây nguy hiểm. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 21/9/2024, khi đi thăm ruộng, ông N phát hiện anh Lưu Phương L, cư trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, nằm bất động trong tư thế ngửa tại phần ruộng của T nên đi lại kiểm tra thì phát hiện anh L đã chết, tại vị trí chân trái nạn nhân L là trụ cột điện bằng kim loại (bên trên có gắn 02 đường dây điện: Một đường dây của ông N, một đường dây của T) nên ông N đã trình báo Cơ quan Công an.

Qua làm việc với gia đình bị hại Lưu Phương L, xác định vào khoảng 21 giờ ngày 20/9/2024, anh L đi cắm câu cá tại khu vực ruộng lúa thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, khi đi mang theo một số dụng cụ, gồm: Đèn pin đội đầu, bao cám và cần câu cắm. Sau đó gia đình không thấy anh L về nhà, đến sáng ngày 21/9/2024 thì phát hiện anh L chết tại bờ ruộng như đã nêu trên.

Tiến hành đo cường độ dòng điện tại trụ kim loại nêu trên, bằng cách sử dụng máy đo nhãn hiệu “KYORITSU”, loại Ampe kìm đo điện áp, sử dụng 01 que của máy cắm xuống đất ruộng, 01 que còn lại cắm vào trụ kim loại, kết quả đo hiển thị trên màn hình máy ghi nhận dòng điện rò tại cột có cường độ là 193,7 Vôn, đối với dòng điện rò xuống đất là 8,7 Ampe. Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường, kiểm tra an toàn của đường dây điện, vị trí nơi xảy ra vụ việc, có sự tham gia của Cơ quan chuyên môn là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Đ - Chi nhánh Đ1 và ghi nhận kết quả như trên.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 1886/KL-KTHS ngày 20/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đối với anh Lưu Phương L, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Bên ngoài cơ thể có nhiều vết rỉ máu do côn trùng cắn, không phát hiện được dấu tổn thương do ngoại lực tác động, cơ thể bảo quản bằng chất formol. Giải phẫu thấy hai phổi phù căng, cắt qua nhu mô có dịch màu đỏ thẫm chảy ra, các tạng khác xuất huyết.
  2. Nguyên nhân tử vong: Sốc do điện/ngạt nước.
  3. Môi trường bảo quản: Bảo quản bằng chất formol.

* Tại văn bản số 519/PC09 ngày 25/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ có nêu:

Cơ chế nạn nhân tiếp xúc dòng điện, dựa theo nguyên lý khoa học khi con người tiếp xúc với dòng điện (≥ 40 vôn) thì có thể gây ngừng hô hấp tuần hoàn dẫn tới tử vong hoặc mất ý thức tạm thời dựa vào điện trở của từng cá thể. Trường hợp Lưu Phương Linh tiếp xúc với dòng điện 193,7 vôn (theo hồ sơ và bản ảnh hiện trường của Cơ quan điều tra cung cấp) thì sau khi tiếp xúc dòng điện gây ức chế thần kinh trung ương (sốc), kết hợp té vào mương nước gây ngạt dẫn tới tử vong. Vậy khi nạn nhân L tiếp xúc dòng điện 193,7 vôn có thể gây tử vong ngay.

* Tại văn bản số 3551/ĐLXL-TH ngày 09/12/2024 của Điện lực Đ1 có nêu:

  • Đường dây điện tại vị trí xảy ra rò rỉ điện (phần ruộng của ông Nguyễn Huệ T thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) do khách hàng quản lý.
  • Việc lắp đặt câu nối điện từ đồng hồ công tơ điện ra vị trí xảy ra rò rỉ điện là do khách hàng đầu tư chi phí và tự thực hiện thi công.
  • Tại thời điểm kiểm tra Điện lực Đ1 ghi nhận việc lắp đặt đường dây, qua quan sát thực tế cho thấy dây dẫn điện tại đường dây trên là loại dây dẫn có vỏ cách điện và cột buộc chặt vào sứ cách điện với trụ cột có chất liệu bằng kim loại do đó đã lắp đặt đúng quy chuẩn, tuy nhiên tại vị trí xảy ra rò rỉ điện trong quá trình sử dụng khách hàng không tổ chức kiểm tra hoặc có kiểm tra nhưng không phát hiện được đường dây dẫn điện đã bị ruột khỏi sứ cách điện cọ vào khung đỡ sứ bằng kim loại dẫn đến xảy ra mất an toàn.
  • Trách nhiệm quản lý, kiểm tra và đảm bảo an toàn từ phần sau công tơ điện là do khách hàng chịu trách nhiệm vì đây là phần tài sản của khách hàng đầu tư lắp đặt.

* Tại văn bản số 3689/ĐLXL-TH ngày 19/12/2024 của Điện lực Đ1 có nêu:

  • Theo nội dung thỏa thuận tại phương án cấp điện cho hộ bà Hồ Thị Ngọc Y, công tơ đo đếm điện được đặt tại trụ của bên bán điện, bên bán điện chịu trách nhiệm đầu tư phần nhánh rẽ từ lưới hạ thế đến đầu dao tổng (MCB) ngay sau công tơ đo đếm điện, bên mua điện chịu trách nhiệm đầu tư phần nhánh rẽ từ MCB sau công tơ đo đếm điện đến nơi sử dụng điện và chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng, an toàn, mỹ quan phần lưới điện đã đầu tư. Do đó, sau khi ký kết hợp đồng mua bán điện với bên bán điện, bên mua điện được phép tự thi công hoặc thuê tổ chức cá nhân có chuyên môn thi công lắp đặt nhánh rẽ phía sau công tơ về địa điểm sử dụng điện mà không cần thiết phải thông báo hay được sự chấp thuận của bên bán điện.
  • Để đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của nhân dân trong quá trình sử dụng điện, thông qua chính quyền địa phương, Điện lực X thường xuyên thông báo nhắc nhở người dân về việc sử dụng điện an toàn, đặc biệt trong các dịp lễ, tết và trước mùa mưa bão.
  • Thiết bị điện khách hàng Hồ Thị Ngọc Y đăng ký có cường độ dòng điện 10A, điện áp 220V. Căn cứ công suất khách hàng đăng ký, Điện lực Đ1 đã thiết kế lắp đặt công tơ đo đếm điện 01 pha 02 dây, công suất 5(80)A –220V.

Trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc xảy ra, Nguyễn Huệ T đã đến gia đình Lưu Phương L để thăm hỏi và bồi thường về dân sự số tiền 100.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của nạn nhân Lưu Phương L là anh Lưu Phương V (anh trai ruột Lưu Phương L) đã nhận số tiền trên và có đơn bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Huệ T. Tuy nhiên, anh V tiếp tục yêu cầu Nguyễn Huệ T hỗ trợ thêm số tiền 200.000.000 đồng nhưng Nguyễn Huệ T hiện chưa có khả năng hỗ trợ thêm số tiền trên.

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKSXL ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Huệ T về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huệ T phạm tội: “Vô ý làm chết người”, quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được gia đình bị hại làm đơn bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự; trình độ học vẫn 03/12 nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo là người lớn tuổi (65 tuổi) và bị bệnh. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huệ T từ 01 năm đến 1 năm 6 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng, Bị hại yêu cầu bị cáo hỗ trợ cho gia đình bị hại thêm số tiền 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý hỗ trợ thêm số tiền 50.000.000 đồng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.

Tại bản án sơ thẩm số 106/2025/HS-ST ngày 12/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc - Đồng Nai đã tuyên xử:

1. Về căn cứ và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huệ T phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huệ T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thư thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Huệ T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật dân sự Buộc bị cáo Nguyễn Huệ T phải bồi thường tiếp cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Ngoài ra, hàng tháng bị cáo còn phải cấp dưỡng cho 2 con của anh L mỗi cháu 2.500.000đ/tháng cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28/8/2025 đại diện bị hại anh Lưu Phương V có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về phần hình phạt: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã lớn tuổi (66 tuổi) và đang bị bệnh, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Huệ T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là có căn cứ, không trái quy định pháp luật.

Về phần bồi thường thiệt hại: cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Lưu Phương V đối với yêu cầu bồi thường như sau:

  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền tương đương với 60 tháng lương cơ sở;
  • Tiền cấp dưỡng nuôi con: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải cấp dưỡng 2 con của anh L là cháu Lưu Quốc T1, sinh năm 2021 và cháu Lưu Quốc T2, sinh năm 2019 cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi. Do bị cáo không đồng ý cấp dưỡng 1 lần nên đề nghị buộc bị cáo phải cấp dưỡng hàng tháng theo quy định pháp luật.
  • Chi phí mai táng: đề nghị chấp nhận chi phí mai táng trọn gói có giấy tờ là 53.500.000đ.

Đối với tiền cấp dưỡng cho cha mẹ của anh L là ông Lưu Kim T3, sinh năm 1960 và bà Lê Thị M, sinh năm 1959: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận vì ông T3 và bà M còn có 5 người con khác ngoài anh L.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:

  • Đối với kháng cáo của đại diện gia đình bị hại về việc tăng hình phạt đối với bị cáo: Luật sư thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc bác nội dung kháng cáo này. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bản án sơ thẩm đã nêu, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo còn bổ sung thêm Giấy tờ xác nhận bị cáo là cháu ruột của Liệt sĩ. Nên mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp.
  • Đối với kháng cáo của đại diện gia đình bị hại về việc tăng mức bồi thường thiệt hại: tại cơ quan điều tra, đại diện bị hại đã nhận 100.000.000đ tiền bồi thường của bị cáo. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo cũng đồng ý bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, đơn kháng cáo của Lưu Phương V làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: Vào khoảng năm 2018, Nguyễn Huệ T đã tự ý thuê người kéo mắc dây điện ra ruộng lúa tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 64 thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quá trình sử dụng điện, bị cáo T đã không kiểm tra tình trạng đường điện nên không phát hiện ra đường dây điện của mình bị hở, lòi phần lõi điện dẫn đến điện truyền trực tiếp vào trụ cột kim loại. Vào ngày 21/9/2024, khi anh Lưu Phương L đi câu cá đến vị trí trên và vô tình chạm trúng cột kim loại này thì bị điện giật gây sốc và ngã xuống ruộng có nước gây ngạt thở, dẫn đến tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự. Tội phạm có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã cân nhắc bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: đã tác động gia đình, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu, Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã lớn tuổi (66 tuổi) và đang bị bệnh, nhận thức bị cáo về pháp luật hạn chế, hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của địa phương. Ngoài ra, hồ sơ còn thể hiện ngày 24/01/2025, đại diện theo pháp luật của bị hại anh Lưu Phương V cũng có bãi nại và đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Huệ T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như phù hợp với quy định của pháp luật, không nhẹ như kháng cáo của anh Lưu Phương V. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh V đồng ý cho bị cáo T được hưởng án treo do bị cáo đã lớn tuổi. Tuy nhiên, anh đề nghị phải tăng mức hình phạt để mang tính răn đe và phòng ngừa chung. Như trên đã phân tích, mức án 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp với quy định pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của anh V.

Anh Lưu Phương V còn kháng cáo đề nghị Tòa án tăng mức bồi thường, cụ thể: đề nghị bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 1.354.000.000đ. Trong đó:

  • Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 234.000.000₫
  • Tiền cấp dưỡng 2 con của anh L là cháu Lưu Quốc T1, sinh năm 2021 và cháu Lưu Quốc T2, sinh năm 2019 cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi là 600.000.000₫
  • Tiền cấp dưỡng cho cha mẹ của anh L là ông Lưu Kim T3, sinh năm 1960 và bà Lê Thị M, sinh năm 1959: số tiền 400.000.000₫
  • Chi phí mai táng: 120.000.000₫

Tại bản tự khai ngày 10/11/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm, anh Lưu Phương V đề nghị bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền như sau:

  • Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 234.000.000₫
  • Tiền cấp dưỡng 2 con của anh L là cháu Lưu Quốc T1, sinh năm 2021 và cháu Lưu Quốc T2, sinh năm 2019 cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi là 393.120.000₫ + 336.960.000₫= 730.080.000₫
  • Tiền cấp dưỡng cho cha mẹ của anh L là ông Lưu Kim T3, sinh năm 1960 và bà Lê Thị M, sinh năm 1959: số tiền 280.800.000đ x 2= 561.600000₫
  • Chi phí mai táng: 109.212.000₫

Tổng cộng: 1.634.892.000đ.

Hội đồng xét xử xét thấy: theo khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự, Điều 8 Nghị quyết 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các khoản tiền bồi thường phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận bao gồm:

  • Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: tối đa không quá 100 tháng lương cơ sở. Tuy nhiên, do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo gây thiệt hại do lỗi vô ý nên áp dụng khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại 2.340.000₫ X 60 = 140.400.000₫
  • Tiền cấp dưỡng 2 con của anh L là cháu Lưu Quốc T1, sinh năm 2021 và cháu Lưu Quốc T2, sinh năm 2019 cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi là 2.500.000đ/cháu/tháng x 2= 5.000.000đ/tháng
  • Tiền cấp dưỡng cho cha mẹ của anh L là ông Lưu Kim T3, sinh năm 1960 và bà Lê Thị M, sinh năm 1959: theo Điều 111 Luật hôn nhân và gia đình thì “con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ trong trường hợp cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Trong vụ án này, gia đình bị hại không chứng minh được ông T3 và bà M không có tài sản để tự nuôi mình. Ngoài ra, A Lưu Phương V xác nhận ông T3 và bà M1 còn có 5 người con khác đã có gia đình và ra ở riêng. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì những người con này phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho ông T3 và bà M. Do đó, yêu cầu này của bị hại không được chấp nhận.
  • Chi phí mai táng phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận là: 53.500.000đ. Các khoản tiền xây dựng bia mộ, các khoản tiền liên quan đến việc cúng tế, lễ bái, ăn uống: không được chấp nhận.

Tổng cộng: 140.400.000đ + 53.500.000đ = 193.900.000đ. Bị cáo đã bồi thường 100.000.000đ, còn phải tiếp tục bồi thường 93.900.000đ. Ngoài ra, hàng tháng bị cáo còn phải cấp dưỡng cho 2 con của anh L mỗi cháu 2.500.000đ/tháng cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện sẽ bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ để cấp dưỡng cho 2 con của anh L từ khi anh L xảy ra tai nạn (tháng 9/2024) đến nay. Anh Lưu Phương V đại diện gia đình bị hại đã nhận số tiền 20.000.000đ trên tại phiên tòa và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và Luật sư tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được xem xét chấp nhận.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên đại diện bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, sửa lại phần án phí dân sự sơ thẩm mà bị cáo phải chịu như sau: 100.000.000₫ x 5% = 5.000.000₫

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Lưu Phương V về việc tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, bác phần kháng cáo của anh Lưu Phương V về việc tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
  2. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 106/2025/HS-ST ngày 12/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc - Đồng Nai nay là Tòa án nhân dân khi vực 6 - Đồng Nai về phần trách nhiệm dân sự

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2024/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huệ T phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huệ T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thư thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Huệ T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật dân sự Buộc bị cáo Nguyễn Huệ T phải bồi thường tiếp cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền: 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Ngoài ra, hàng tháng bị cáo còn phải cấp dưỡng cho 2 con của anh L mỗi cháu 2.500.000đ/tháng cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

3. Về án phí: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 23, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Bị cáo phải chịu 5.000.000₫ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND KV1 - Đồng Nai,
  • - Phòng THADS KV1 - Đồng Nai
  • - Phòng PV06 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo
  • - Trại tạm giam số 1- CA tỉnh Đồng Nai
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lệ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 664/2025/HS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự "vô ý làm chết người"

  • Số bản án: 664/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự "Vô ý làm chết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Lưu Phương V về việc tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, bác phần kháng cáo của anh Lưu Phương V về việc tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger