|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương
Ông Trần Ngọc Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị N do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng) vào ngày 09 tháng 3 năm 2007. Sau khi kết hôn, chị N về chung sống cùng gia đình anh ở thôn T, xã Đ, huyện A (nay là tổ dân phố T, phường H), thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên thường xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình bố, mẹ hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên mặc dù sống chung nhà nhưng anh và chị Năm đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Năm.
Về con chung: Anh và chị N có ba con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2008; Nguyễn Ngọc Kh, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2012 và Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2014. Hiện tại các con chung do anh và chị N nuôi dưỡng. Anh đề nghị Tòa án giao các con chung Nguyễn Ngọc L, và Nguyễn Ngọc Kh cho anh nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Ngọc Q cho chị N nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N để chị N đến Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng giải quyết việc anh Nguyễn Văn C xin ly hôn nhưng chị Năm đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Quốc hội; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị N. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn C nuôi dưỡng các con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2008 và Nguyễn Ngọc Kh, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2012; giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2014 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Anh Nguyễn Văn C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn C có đơn khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị N hiện đang cư trú tại tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Quốc hội thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Đạ, huyện A (nay là Ủy ban nhân dân phường H), thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09 tháng 3 năm 2007, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Tuy chị Nguyễn Thị N không đến Tòa án, nên không có quan điểm của chị N về việc anh Nguyễn Văn C xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị N đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị N là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của anh Nguyễn Văn C đối với chị Nguyễn Thị N.
[5] Về con chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị N có ba con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2008; Nguyễn Ngọc Kh, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2012 và Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2014. Anh Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giao các con chung Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Ngọc Kh cho anh C nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Ngọc Q cho chị N nuôi dưỡng. Các con chung Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Ngọc Kh có nguyện vọng được ở với bố; Con chung Nguyễn Ngọc Q có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, hiện tại anh C và chị N đều là công nhân nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của anh C và chị N như nhau. Con chung Nguyễn Ngọc Q nhỏ nhất nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn nên giao con chung Nguyễn Ngọc Q cho chị N nuôi dưỡng; giao các con chung Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Ngọc Kh cho anh C nuôi dưỡng.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị N không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
[7] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị N không có quan điểm về tài sản, nên Tòa án không giải quyết về tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
[8] Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn C là nguyên đơn nên anh C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Quốc hội;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao các con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2008 và Nguyễn Ngọc Kh, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2012 cho anh Nguyễn Văn C nuôi dưỡng; Giao con chung Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị N không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị N không có quan điểm về tài sản, nên Tòa án không giải quyết về tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn anh C đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000960 ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Minh Huế |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị N
