TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày 10-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Phạm Thị Kim Thu
Ông Nguyễn Vân Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích N; nơi cư trú: B Tổ Đ, phường H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: B Tổ Đ, phường H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Bích N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng vào ngày 15/4/2011. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Mặt khác anh Nguyễn Văn T có phát sinh quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân với nhau hơn một năm nay, không quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có hai con chung tên là: Nguyễn Phương N1, sinh ngày 23/12/2009 và Nguyễn Ngọc Đan V, sinh ngày 17/9/2012. Ly hôn, chị đề nghị giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị đề nghị tự thỏa với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị đề nghị tự thỏa thuận, giải quyết với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn – anh Nguyễn Văn T trình bày:
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn T theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích N.
Theo tài liệu xác minh tại gia đình, chính quyền địa phương thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, con chung của chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T như chị Nguyễn Thị N trình bày là đúng.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích N: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích N ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
+ Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Phương N1, sinh ngày 23/12/2009 và Nguyễn Ngọc Đan V, sinh ngày 17/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự giải quyết với anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
+ Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự thỏa thuận, giải quyết với anh Nguyễn Văn T về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về tài sản chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, các đương sự đều có nơi thường trú tại phường H, thành phố Hải Phòng (trước là phường H, quận H, thành phố Hải Phòng). Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng tiến hành xét xử vắng các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng vào ngày 15/4/2011, theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau về tình cảm. Vợ chồng sống ly thân được hơn 1 năm nay, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích N, xử cho chị Nguyễn Thị Bích N ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T có hai con chung là Nguyễn Phương N1, sinh ngày 23/12/2009 và Nguyễn Ngọc Đan V, sinh ngày 17/9/2012. Hội đồng xét xử, xét thấy: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị được nuôi cả hai con chung, anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về việc nuôi con chung. Tuy nhiên, các con chung đều có nguyện vọng ở với chị Nguyễn Thị Bích N. Mặt khác, hiện nay các con chung đang ở với chị Nguyễn Thị Bích N. Chị Nguyễn Thị Bích N làm lao động tự do, thu nhập ổn định với mức lương từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/1 tháng. Các con chung được chị N chăm sóc chu đáo cả về thể chất lẫn tinh thần. Khi chị Nguyễn Thị Bích N có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn T, chị N trở về nhà mẹ đẻ thì chị N đã đưa cả hai con chung đi cùng để chăm sóc các cháu. Điều này thể hiện chị Nguyễn Thị Bích N là người mẹ trách nhiệm trong việc chăm sóc các con chung, tình yêu thương các con của chị N và giữa chị N với các cháu có sự gắn bó thân thiết. Ngoài ra, theo lời khai của ông Nguyễn Văn N2 là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T thể hiện: Đề nghị Tòa án giao các con chung cho chị Nguyễn Thị Bích N nuôi dưỡng. Chính vì vậy, để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, đảm bảo ổn định tâm lý, tình cảm của các con, cần giao các con chung cho chị Nguyễn Thị Bích N nuôi dưỡng Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6 Nghị hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong vụ việc giải quyết về hôn nhân gia đình số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự giải quyết với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự giải quyết với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung của chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích N là nguyên đơn nên chị Nguyễn Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 6 Điều 11 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong vụ việc giải quyết về hôn nhân gia đình số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích N ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao các con chung tên là Nguyễn Phương N1, sinh ngày 23/12/2009 và Nguyễn Ngọc Đan V, sinh ngày 17/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự giải quyết với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích N đề nghị tự giải quyết với anh Nguyễn Văn T, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung của chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T.
4. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thị Bích N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003285 ngày 08 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3). Chị Nguyễn Thị Bích N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Bích N và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyệt + Tiến
