TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 644/2025/DS-PT
Ngày: 24-12-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán:Ông Lê Văn Phận;
Ông Vương Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 393/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 527/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà dân sự phúc thẩm số 359/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Hồ Thị Nghĩa E, sinh năm 1970; (Có mặt)
Địa chỉ: Khóm T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số G, khóm M, phường T, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Bị đơn:
+ Ông Lưu Hoàng M, sinh năm 1980; (Có văn bản xin xét xử vắng mặt)
+ Bà Huỳnh Mộng T1, sinh năm 1980; (Có văn bản xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
+ Ông Phạm Văn M1, sinh năm 1955; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Bà Hồ Thị Nghĩa E, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Trong đơn khởi kiện ngày 27/8/2024 (được sửa đổi, bổ sung ngày 11/02/2025, 10/4/2025) và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Hồ Thị Nghĩa E trình bày: Vào ngày 01/01/2024 (nhằm ngày 20/11/2023 âm lịch) giữa nguyên đơn Hồ Thị Nghĩa E và bị đơn là Lưu Hoàng M có giao dịch hợp đồng vay tài sản với nhau, bà E cho ông M vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 05 tháng, hợp đồng bằng văn bản. Ngày 31/01/2024 (nhằm ngày 21/12/2023 âm lịch), bà Nghĩa E tiếp tục cho ông M vay số tiền 100.000.000 đồng, tổng cộng 02 lần vay số tiền 400.000.000 đồng. Số tiền 02 lần vay bà N Em đưa tiền cho bị đơn Phạm Văn M1, sau đó ông M1 giao lại cho Lưu Hoàng M, ông M làm biên nhận về giao lại bà Nghĩa E. Sau khi vay, phía ông M có trả lãi được 11 lần số tiền 107.000.000 đồng.
Do phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, bà Nghĩa E yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Lưu Hoàng M cùng vợ Huỳnh Mộng T1 và ông Phạm Văn M1 có nghĩa vụ trả số tiền vay còn nợ, cụ thể:
- - Số tiền vốn gốc 300.000.000 đồng, lãi suất 0.83%/tháng từ ngày 01/01/2024 đến ngày khởi kiện là 13 tháng bằng 32.370.000 đồng lãi.
- - Số tiền vốn gốc 100.000.000 đồng, lãi suất 0.83%/tháng từ ngày 31/01/2024 đến ngày khởi kiện là 12 tháng bằng 9.960.000 đồng lãi.
Tổng cộng số tiền vay vốn, lãi buộc ông M, bà T1, ông M1 có nghĩa vụ trả cho bà Nghĩa E 442.330.000 đồng. Đồng thời lãi tính tiếp đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bị đơn rút yêu cầu phản tố thì nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiền lãi số tiền vay, bà yêu cầu các bị đơn trả vốn gốc là 400.000.000 đồng.
Trong đơn phản tố ngày 06/5/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn Lưu Hoàng M trình bày: Ông M thừa nhận đã có vay tiền của bà Hồ Thị Nghĩa E 02 lần số tiền là 400.000.000 đồng, đã trả lãi được 107.500.000 đồng như bà Nghĩa E trình bày. Ông đồng ý trả số tiền vốn gốc cho bà Nghĩa E 400.000.000 đồng và lãi 42.330.000 đồng nhưng trừ vào số tiền ông đã trả cho bà Nghĩa E là 107.500.000 đồng, còn lại ông trả cho bà Nghĩa E là 334.830.000 đồng. Ông M đồng ý rút đơn yêu cầu phản tố đối với bà Nghĩa E là 65.170.000 đồng. Ông M đề nghị nguyên đơn không tính lãi suất đối với số tiền vay vốn 400.000.000 đồng.
Trong bản tự khai ngày 12/6/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn là bà Huỳnh Mộng T1 trình bày: Bà thống nhất lời trình bày và yêu cầu phản tố của ông M. Bà đồng ý cùng ông M trả cho bà Nghĩa E số tiền vay vốn, lãi là 442.330.000 đồng, trừ lại số tiền bà và ông M trả lãi là 107.500.000 đồng, còn lại 334.830.000 đồng.
Trong bản tự khai ngày 15/4/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn là ông Phạm Văn M1 trình bày: Số tiền vay 02 lần là 400.000.000 đồng do ông M, bà T1 vay của bà Nghĩa E, ông có giới thiệu cho ông M, bà T1 vay tiền bà Nghĩa E. Các lần vay tiền, ông nhận tiền từ bà Nghĩa E, sau đó ông giao lại cho ông M, bà T1 đủ số tiền 400.000.000 đồng, ông M, bà T1 có ký nhận biên nhận với bà Nghĩa E. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nghĩa E yêu cầu ông có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nghĩa E số tiền vay vốn, lãi là 442.330.000 đồng thì ông không đồng ý, ông không có trách nhiệm trả nợ cho bà Nghĩa E.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nghĩa E giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày, trường hợp phía ông M rút yêu cầu phản tố thì bà Nghĩa E yêu cầu ông M, bà T1, ông M1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nghĩa E số tiền 400.000.000 đồng, không tính lãi, không cung cấp tài liệu chứng cứ bổ sung.
Bị đơn ông M, bà T1 đồng ý trả cho bà Nghĩa E số vốn 400.000.000 đồng, phía bà Nghĩa E không tính tiền lãi thì ông M rút đơn phản tố đối với bà Nghĩa E.
Ông M1 không đồng ý liên đới cùng ông M và bà T1 trả số tiền cho bà Nghĩa E 400.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Nghĩa E do số tiền do ông M, bà T1 vay của bà Nghĩa E, ông M1 không có vay tiền của bà Nghĩa E.
Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ khoản 2 Điều 244, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Đình chỉ xét xử đối với số tiền lãi nguyên đơn rút lại 42.330.000 đồng và yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền lãi bị đơn đề nghị cấn trừ 65.170.000 đồng.
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị Nghĩa E đối với bị đơn Lưu Hoàng M, Huỳnh Mộng T1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị Nghĩa E đối với bị đơn Phạm Văn M1.
Buộc bị đơn anh Lưu Hoàng M, chị Huỳnh Mộng T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Hồ Thị Nghĩa E số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi chậm thi hành án và quyền thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/8/2025, bà Hồ Thị Nghĩa E có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lưu Hoàng M, bà Huỳnh Mộng T1 và ông Phạm Văn M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà E số tiền vay gốc 400.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lưu Hoàng M, bà Huỳnh Mộng T1 và ông Phạm Văn M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà E số tiền gốc 400.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lưu Hoàng M, bà Huỳnh Mộng T1, ông Phạm Văn M1 vắng mặt tại phiên toà nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn ông Lưu Hoàng M và bà Huỳnh Mộng T1 thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn ông Phạm Văn M1 thực hiện chưa đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- - Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Nghĩa E; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn bà Hồ Thị Nghĩa E kháng cáo đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và còn trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Lưu Hoàng M và bà Huỳnh Mộng T1 có văn bản xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn M1 có đơn xin hoãn phiên toà với lý do bệnh nặng. Hội đồng xét xử xét thấy, phiên toà phúc thẩm xét xử vụ án đã được mở lần thứ hai, ông M1 có đơn xin hoãn phiên toà nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh ông M1 không thể tham gia phiên toà được do bệnh nặng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Ông M1 vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, không thuộc trường hợp vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn xin hoãn phiên toà của ông M1. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà T1 và ông M1.
[2] Về nội dung:
Bà Hồ Thị Nghĩa E khởi kiện yêu cầu ông Lưu Hoàng M, bà Huỳnh Mộng T1 và ông Phạm Văn M1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay gốc 400.000.000 đồng. Ông M, bà T1 đồng ý liên đới trả tiền cho bà E, riêng ông M1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc liên đới với ông M, bà T1 trả số tiền vay nêu trên cho bà E.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Các bên đương sự không có yêu cầu kháng cáo đối với số tiền vay gốc 400.000.000 đồng, bao gồm 300.000.000 đồng vay ngày 01/01/2024 (nhằm ngày 20/11/2023 âm lịch) và 100.000.000 đồng vay ngày 31/01/2024 (nhằm ngày 21/12/2023 âm lịch) cũng như trách nhiệm liên đới trả tiền của ông M, bà T1 nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà E về việc buộc ông M1 có trách nhiệm liên đới cùng ông M, bà T1 trả cho bà E số tiền vay 400.000.000 đồng:
Theo biên nhận ngày 20/11/2023 âm lịch có nội dung ông Minh xác N1 mượn tiền của bà E số tiền 300.000.000 đồng, có chữ ký của ông M dưới mục người viết biên nhận. Theo biên nhận ngày 21/12/2023 âm lịch có nội dung ông Minh xác N1 mượn thêm của bà E số tiền 100.000.000 đồng, có chữ ký của ông M dưới mục người nhận. Ngoài ra, các biên nhận không còn chữ ký của ai khác. Quá trình giải quyết vụ án, ông M thừa nhận đã ký 02 biên nhận ngày 20/11/2023 âm lịch và ngày 21/12/2023 âm lịch nêu trên, xác nhận có mượn bà E số tiền 400.000.000 đồng và đồng ý trả nợ số tiền này cho bà E là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, 02 biên nhận chỉ có ông M là người ký tên mượn tiền, không có chữ ký xác nhận mượn tiền của ông M1 trong 02 biên nhận cũng như ông M1 không có ký biên nhận bảo lãnh số tiền vay của ông M, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ông M1 bảo lãnh số tiền vay của ông M đối với bà E.
Theo đơn kháng cáo, bà E cho rằng ông M1 là người đã nhận số tiền vay 400.000.000 đồng từ bà E, sau đó ông M1 tự ý cho ông M, bà T1 vay số tiền này mà không có sự đồng ý của bà E, khi vay ông M, bà T1 không biết bà E, ông M1 không nói với bà E về việc cho ai vay tiền, ông M1 thừa nhận việc thu tiền lãi của ông M, bà T1 rồi giao lại cho bà E, do đó bà E yêu cầu ông M1 có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng ông M, bà T1. Về nội dung này, căn cứ vào hồ sơ vụ án, ông M1 thừa nhận có 02 lần nhận tiền tổng cộng là 400.000.000 đồng từ bà E nhưng sau đó ông đã giao số tiền này cho ông M, bà T1 vay, điều này ông M, bà T1 thừa nhận. Ông M thừa nhận có thu tiền lãi 11 lần số tiền 107.000.000 đồng từ ông M, bà T1 nhưng sau đó ông đã giao số tiền lãi này cho bà E, bà E cũng thừa nhận đã nhận tiền lãi nêu trên. Như vậy, ông M1 không sử dụng số tiền 400.000.000 đồng của bà E mà số tiền vay do ông M sử dụng. Ông M1 không sử dụng số tiền lãi 107.000.000 đồng thu từ ông M mà giao tiền lãi cho bà E. Cả bà E và ông M đều thống nhất số tiền lãi đã đóng là 107.000.000 đồng đúng số tiền ông M1 thu từ ông M giao lại cho bà E. Ông M1 không sử dụng tiền vay cũng như tiền lãi của số tiền vay.
Theo đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 14/02/2025, bà E xác định ông M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, viết phía sau tên Phạm Văn M1 có dòng chữ “(Người giới thiệu ông M vay tiền của tôi)”, nội dung cho thấy bà E xác định ông M là người vay tiền và ông M1 là người giới thiệu ông M vay tiền. Theo đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề ngày 10/4/2025 của bà E có nội dung: “Vào ngày 20/11/2023 (Âm lịch) nhằm ngày 01/01/2024 theo đề nghị của ông M1 thì tôi có đưa cho ông Phạm Văn M1 số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tôi kêu ông M1 viết biên nhận cho tôi thì ông M1 không viết mà nói với tôi để ông M1 mang cho người ta vay xong rồi người ta sẽ viết giấy biên nhận vay tiền mang về đưa cho tôi. Do tôi tin tưởng ông M1 là cán bộ đang làm việc ở khóm T nên đã giao số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) cho ông M1, sau đó ông M1 có mang về giao lại cho tôi 01 biên nhận tiền do 01 người tên Lưu Hoàng M ký tên bên vay số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) ghi ngày 20/11/2023 AL. Do tin tưởng ông M1 nên tôi không có ý kiến gì mặc dù tôi không biết và chưa gặp ông Lưu Hoàng M lần nào. Đến ngày 21/12/2023 (Âm lịch) nhằm ngày 30/01/2024 dương lịch ông M1 nói với tôi là bên vay tiền người ta cần thêm 100.000.000 (Một trăm triệu đồng) nữa để mua phân bón cho cam sành tôi có cho vay thêm không. Tôi đồng ý nên đưa thêm cho ông M1 100.000.000 (Một trăm triệu đồng) nữa tại nhà của tôi, thời điểm giao tiền chỉ có tôi với ông M1 và chồng con của tôi chứ không có mặt ông Lưu Hoàng M. Sau khi đưa cho ông M1 số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu đồng) thì ông M1 có đưa lại cho tôi biên nhận vay tiền do 01 người tên Lưu Hoàng M ký tên bên vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) ghi ngày 21/12/2023 AL”. Qua nội dung đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà E biết việc ông M1 giao số tiền 400.000.000 đồng cho ông M vay, bà E là người giữ biên nhận vay tiền của ông M ký, tại thời điểm ông M1 giao biên nhận vay tiền số tiền 300.000.000 đồng cho bà E cất giữ thì bà E đã biết người vay tiền tên Lưu Hoàng M nhưng không có ý kiến gì, sau đó bà E còn đồng ý cho ông M vay thêm số tiền 100.000.000 đồng. Như vậy, ông M1 không phải người vay tiền mà ông có vai trò trung gian trong giao dịch vay tiền giữa ông M và bà E. Do đó, lời trình bày của bà E tại đơn kháng cáo cho rằng ông M1 tự ý cho ông M, bà T1 vay số tiền 400.000.000 đồng mà không có sự đồng ý của bà và khi ông M1 giao biên nhận thì bà cất đi và nghĩ rằng biên nhận do ông M1 viết và ký nhận nên không ý kiến là không phù hợp, có mâu thuẫn trong lời khai nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét lời trình bày của bà E.
Từ các lẽ trên, do ông M1 không sử dụng tiền vay, tiền lãi, cụ thể tiền vay do ông M sử dụng, tiền lãi do bà E sử dụng; ông M1 không ký tên biên nhận mượn tiền, không ký tên bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ của ông M mà chỉ ông M ký biên nhận tiền với bà E; bà E biết việc ông M vay tiền nhưng không có ý kiến gì nên không có cơ sở xác định ông M1 có trách nhiệm trả nợ số tiền 400.000.000 đồng cho bà E, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở xác định ông M1 có trách nhiệm liên đới cùng ông M, bà T1 trả số tiền vay 400.000.000 đồng cho bà E. Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông M1 liên đới trả nợ cùng ông M, bà T1 là phù hợp quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở, đương sự không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị Nghĩa E.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.
Căn cứ khoản 2 Điều 244, Điều 147, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 288, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Nghĩa E đối với số tiền lãi 42.330.000đ (bốn mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lưu Hoàng M đối với số tiền lãi yêu cầu cấn trừ là 65.170.000₫ (sáu mươi lăm triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Nghĩa E đối với bị đơn ông Lưu Hoàng M, bà Huỳnh Mộng T1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Nghĩa E đối với bị đơn ông Phạm Văn M1.
Buộc
ông Lưu Hoàng M và bà Huỳnh Mộng T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Hồ Thị Nghĩa E số tiền vay là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lưu Hoàng M và bà Huỳnh Mộng T1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí sơ thẩm số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.629.250đ (một triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002313 ngày 22/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Vĩnh Long). Buộc ông Lưu Hoàng M và bà Huỳnh Mộng T1 phải có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền án phí còn lại 18.370.750đ (mười tám triệu ba trăm bảy mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Hoàn trả lại cho bà Hồ Thị Nghĩa E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.289.000₫ (tám triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002078 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Vĩnh Long).
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Hồ Thị Nghĩa E phải chịu án phí phúc thẩm số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001810 ngày 12/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Hồ Thị Nghĩa E đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 644/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 644/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
