Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9-PHÚ THỌ

Bản án số: 61/2025/HS-ST

Ngày 19 - 11 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc

Bà Trần Thị Học

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn T, sinh ngày 10/5/1970 tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T1 (Đã chết) và bà Văn Thị M; có vợ Phùng Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 29/8/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.
  2. Đỗ Văn N, sinh ngày 10/02/1965 tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; có vợ Bùi Thị N1 và 05 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2019/HSST ngày 02/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-Phú Thọ) xử phạt Đỗ Văn N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Bị cáo bị

bắt tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 29/8/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 25/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Lê Văn T, sinh năm 1970 và Đỗ Văn N, sinh năm 1965 đều trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tiến hành triệu tập Lê Văn T và Đỗ Văn N lên trụ sở tại phường V, tỉnh Phú Thọ làm việc. Tại cơ quan điều tra, T và N đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên và tự nguyện giao nộp vật chứng, cụ thể: Lê Văn T đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno10 5G, màu xanh, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0378.684.597; Đỗ Văn N đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14, màu tím, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0963.173.965 để phục vụ công tác điều tra. Qua điều tra xác định:

Lê Văn T và Đỗ Văn N là bạn bè có mối quan hệ quen biết do cùng làm lao động tự do tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Sáng ngày 25/8/2025, N đến nhà T chơi và nói với T là N có nhu cầu mua số lô, số đề nhưng không biết ai bán. Thấy vậy, T bảo N là T sẽ đứng ra bán số lô, số đề cho N thì N đồng ý. Sau đó, T và N thống nhất: T sử dụng số điện thoại 0378.684.xxx còn N sử dụng số điện thoại 0963.173.xxx, thông qua 02 số điện thoại trên để nhắn tin SMS mua bán số lô, số đề với nhau. Cả hai thống nhất cách thức tính tỷ lệ thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút hàng ngày, cụ thể như sau: Số lô là số tự nhiên bất kỳ có 02 chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do N chọn. Mỗi một điểm lô T bán cho N với giá 22.500đ. Nếu số lô N mua mà trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì N sẽ thắng và được T trả tiền thưởng theo tỷ lệ cứ 01 điểm lô thì được 80.000đ. Trường hợp số lô N mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thưởng thì số tiền N được hưởng tương ứng cứ nhân lên theo số lần trùng lặp như vậy nhưng không được hưởng quá 03 lần (kép 3). Ngược lại, nếu Ngọc T3 (tức là số lô N mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào) thì T sẽ được hưởng số tiền mà N dùng để mua số lô đó. Số đề loại 02 số là số tự nhiên bất kỳ có 02 chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do N chọn. Khi N mua các số đề loại 02 số thì T sẽ khuyến mại cho N 20% nên N chỉ phải trả cho T 80% số tiền N mua các số đề đó. Nếu số đề N mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì N sẽ thắng và được T trả thưởng số tiền gấp 70 lần lượng tiền N mua số đề đó. Ngược lại, nếu Ngọc thua (tức là số đề N mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt) thì T sẽ được hưởng số tiền N dùng để mua số đề đó.

Sau khi thỏa thuận cách thức mua bán số lô, số đề và trả thưởng như trên thì đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày 25/8/2025, N đang ở nhà tại thôn N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (có đặc điểm nêu trên) gắn sim số điện thoại 0963.173.xxx nhắn tin đến điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (có đặc điểm nêu trên) gắn sim số điện thoại 0378.684.xxx của T để hỏi mua số lô, số đề với nội dung: “Lô 93, 39, 08, 80, 18, 81, 57, 75, 54, 78, 87, 56, 65, 35, 53, 13, 31, 30, 03, 15, 51, 63, 36, 37, 73, 64, 23, 32, 10d, đề 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 80n, 40, 04, 13, 31, 22, 77, 68, 86, 59, 95, 30n, kép bằng 300n, kép lệch 200n”, ý của T đặt mua các số lô, số đề của N gồm:

Các số lô: 93, 39, 08, 80, 18, 81, 57, 75, 54, 78, 87, 56, 65, 35, 53, 13, 31, 30, 03, 15, 51, 63, 36, 37, 73, 64, 23, 32 mỗi số với lượng 10 điểm, tổng là 280 điểm lô x 22.500 đồng, tương ứng với số tiền 6.300.000 đồng.

Các số đề loại 02 số gồm: Các số đề 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49 mỗi số 80.000 đồng, tổng là 800.000 đồng. Các số đề 40, 04, 13, 31, 22, 77, 68, 86, 59, 95 mỗi số 30.000 đồng, tổng là 300.000 đồng. Các số đề kép bằng gồm 10 số: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 30.000 đồng, tổng là 300.000 đồng. Các số đề kép lệch gồm 10 số: 05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94 mỗi số 20.000 đồng, tổng là 200.000 đồng.

T nhắn tin lại cho N với nội dung “Ok” tức là T đồng ý bán cho N các số lô, số đề với lượng điểm, lượng tiền tương ứng như trên. Tổng số tiền N mua số lô, số đề của T là 7.900.000 đồng nhưng T khuyến mại cho N số tiền 320.000 đồng nên N sẽ chỉ phải trả cho T số tiền 7.580.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T và N đánh bạc với nhau ngày 25/8/2025 là 7.900.000 đồng. Tuy nhiên, T và N chưa thanh toán tiền mua bán số lô, số đề cho nhau.

Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 01/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số A4151, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno10 5G, màu xanh gắn sim số 0963.173.965 thu giữ của Lê Văn T. Ngày 15/9/2025, Phòng K Công an tỉnh P đã có Bản kết luận giám định số 1945/KL-KTHS, kết luận: “Tìm thấy 02 tin nhắn SMS từ đối tượng giám định, dữ liệu được in thành văn bản”. Theo nội dung giám định thì 02 tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0378.684.xxx của T với số điện thoại 0963.173.xxx được lưu trong danh bạ là “Ngocvo” của Đỗ Văn N trong ngày 25/8/2025 có nội dung nhắn tin mua bán số lô, số đề với nhau.

Ngày 01/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số A4150, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14 gắn sim số 0963.173.965 thu giữ của Đỗ Văn N. Ngày 15/9/2025, Phòng K Công

an tỉnh P đã có Bản kết luận giám định số 1944/KL-KTHS, kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu giám định từ đối tượng giám định”.

Kết quả thu giữ điện tín:

Ngày 01/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Văn bản số A4546, yêu cầu Cục B và Tập đoàn C (V) cung cấp thông tin về chủ thuê bao và lịch sử cuộc gọi, tin nhắn của số thuê bao 0378.684.597 thu giữ của Lê Văn T và số thuê bao 0963.173.965 thu giữ của Đỗ Văn N.

Ngày 18/9/2025, V đã có tài liệu phúc đáp. Theo đó xác định: chủ thuê bao số 0378.684.597 là anh Đinh Văn L, sinh năm 1973, trú tại xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Đ, tỉnh Tuyên Quang), còn chủ thuê bao số 0963.173.965 là Đỗ Văn N. Lịch sử cuộc gọi và tin nhắn của 02 số thuê bao trên không có nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc.

Đối với anh Đinh Văn L là người đứng tên chủ thuê bao sim điện thoại có số 0378.684.xxx mà Lê Văn T sử dụng để nhắn tin bán số lô, số đề cho N. Quá trình điều tra xác định: Đây là sim điện thoại rác T mua tại 01 cửa hàng mua bán sim điện thoại ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể rồi sử dụng để bán số lô, số đề trái phép. Bản thân T và anh L đều khai nhận không quen biết nhau, anh L cũng không đăng ký và sử dụng sim điện thoại di động này. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L là có căn cứ.

Về vật chứng:

Cơ quan điều tra tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno10 5G, màu xanh, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0378.684.xxx của Lê Văn T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14, màu tím, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0963.173.xxx của Đỗ Văn N.

Tại cơ quan điều tra Lê Văn T và Đỗ Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSKV ngày 15 tháng 10 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ truy tố các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Lê Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình

sự.

Xử phạt: Đỗ Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N cho Uỷ ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, quản lý trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 bộ luật hình sự phạt bị cáo T và N mỗi bị cáo từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Truy thu số tiền 7.900.000đ của bị cáo Đỗ Văn N để sung ngân sách Nhà nước (Xác nhận bị cáo N đã nộp).

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno10 5G, màu xanh, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0378.684.xxx tạm giữ của Lê Văn T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14, màu tím, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0963.173.xxx tạm giữ của Đỗ Văn N. Quá trình điều tra xác định là công cụ T và N sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại nêu trên. Đối với 02 thẻ sim, do không còn giá trị sử dụng và các bị cáo không có nhu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Lê Văn T Và Đỗ Văn N đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:

Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 25/8/2025, tại thôn N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, Lê Văn T và Đỗ Văn N đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua tin nhắn SMS trên điện thoại di động với tổng số tiền

đánh bạc là 7.900.000 đồng (Trong đó: N đã mua của T 280 điểm lô với tổng số tiền 6.300.000đ và số đề các loại với tổng số tiền 1.600.000 đồng).

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như sau.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng,... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4] Xét tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và vai trò nhân thân các bị cáo như: Trong vụ án này các bị cáo không có bàn bạc, rủ rê mà tự phát. Đối với Đỗ Văn N tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2019/HSST ngày 02/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-Phú Thọ) xử phạt Đỗ Văn N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Căn cứ vào điểm a khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo được coi là phạm tội lần đầu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T có bố được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo N có bố được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và có thời gian tham gia quân đội bảo vệ tổ quốc, là người cao tuổi nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có nơi cư trú ổn định nên chỉ cần phạt mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Quan điểm của Viện kiểm sát về mức hình phạt, phạt bổ sung và xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt tiền đối các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N để sung ngân sách Nhà nước.

[7] Đối với anh Đinh Văn L là người đứng tên chủ thuê bao sim điện thoại có số 0378.684.xxx mà Lê Văn T sử dụng để nhắn tin bán số lô, số đề cho N. Quá trình

điều tra xác định: Đây là sim điện thoại rác T mua tại 01 cửa hàng mua bán sim điện thoại ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể rồi sử dụng để bán số lô, số đề trái phép. Bản thân T và anh L đều khai nhận không quen biết nhau, anh L cũng không đăng ký và sử dụng sim điện thoại di động này. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno10 5G, màu xanh, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0378.684.xxx tạm giữ của Lê Văn T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14, màu tím, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0963.173.xxx tạm giữ của Đỗ Văn N. Quá trình điều tra xác định là công cụ T và N sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước. Đối với 02 thẻ sim, do không còn giá trị sử dụng và các bị cáo không có nhu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 7.900.000đ là tiền N sử dụng để đánh bạc với T ngày 25/8/2025 nhưng N chưa thanh toán với T, cần truy thu của N để sung ngân sách Nhà nước (Xác nhận N đã nộp).

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đỗ Văn N là người cao tuổi, căn cứ điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo N được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đỗ Văn N 13 (Mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ nơi các bị cáo cư trú giám sát, quản lý trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó

phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Lê Văn T và Đỗ Văn N mỗi bị cáo 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Truy thu của bị cáo Đỗ Văn N số tiền 7.900.000₫ (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước (Xác nhận bị cáo đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Phú Thọ).

Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno10 5G, màu xanh của Lê Văn T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A14, màu tím của Đỗ Văn N.

Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số thuê bao 0963.173.xxx và 0378.684.597 (Vật chứng trên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan Công an tỉnh P với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Phú Thọ).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đỗ Văn N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 9-Phú Thọ;
  • - Thi hành án HS;
  • - Phòng THADS khu vực 9-Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Đại Đình;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thái

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 61/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T, Đỗ Văn N phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger