TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 30-12-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Xuân Tiến
- Ông Lê Xuân Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Đức K, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/01/1970; Căn cước công dân số 036070007687, cấp ngày 25/4/2021.
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Đức K1 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị C (đã chết); Gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ 7; Vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1975; Có 3 con: Con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/9/2025 đến nay. Có mặt.
* Bị hại:
- Anh Đồng Ngọc D, sinh ngày 12/8/2007
- Anh Đồng Ngọc Á, sinh ngày 01/8/2007
Đều trú tại: Thôn B L, xã Q, tỉnh Ninh Bình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đức K2, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, phường T, thành phố Hà Nội.
- Ông Đồng Văn P, sinh năm 1954 (Có mặt)
- Anh Đồng Ngọc D1, sinh năm 1980 (Có mặt)
Đều trú tại: Thôn B L, xã Q, tỉnh Ninh Bình.
- Ông Phạm Văn V, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn E, xã N, tỉnh Ninh Bình.
* Người làm chứng:
- Cháu Đồng Thị H, sinh ngày 16/10/2009
Người đại diện hợp pháp của cháu H: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984.
Đều trú tại: Thôn B L, xã Q, tỉnh Ninh Bình (Có mặt).
- Anh Đào Xuân C1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 57 phút ngày 03/7/2025, Nguyễn Đức K (có giấy phép lái xe hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tô tải màu trắng, nhãn hiệu DONGFENG, biển số 29H-067.83 chở theo anh Đào Xuân C1, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình (ngồi bên ghế phụ) đi trên TL488B theo hướng xã C - đường TL490C đến xã Q, tỉnh Ninh Bình. Khi đến khu vực Km 12+600 đường TL488B, ngã tư giao nhau giữa đường TL488B với đường liên xã Q và đường dong thôn N, xã Q, do có ý định chuyển hướng (rẽ trái) vào đường liên xã Q, khi cách khu vực ngã tư khoảng 25m, K điều khiển xe ô tô với vận tốc khoảng 28,32 km/h đến 30,28 km/h và bật đèn chuyển hướng bên trái tiếp tục đi về khu vực ngã tư. Do chủ quan, K chỉ quan sát phía sau gương chiếu hậu và quan sát về phía đường liên xã Q (phía bên trái) mà không quan sát phía trước, khi cách khu vực ngã tư trên khoảng 03m Khoái đánh lái cho xe ô tô chuyển hướng vào đường liên xã Q. Lúc này, anh Đồng Ngọc Á điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không gắn biển kiểm soát chở sau là anh Đồng Ngọc D đang đi ở phần đường bên phải trên tỉnh lộ 488B hướng từ tỉnh lộ 490C đi xã C. Do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ khi đi qua ngã tư giao nhau nên phần mặt lăn, má lốp bên trái bánh trước xe mô tô do anh Ánh điều khiển đã va chạm với ba đờ sốc phía trước bên trái (bên lái) xe ô tô do K điều khiển. Sau va chạm, mô tô, anh Ánh và anh D đổ, ngã xuống mặt đường, xe mô tô trượt khoảng 2m dừng lại ở khu vực hàng rào tôn lan can ngăn cách đường với bờ kè sông tưới tiêu. Hậu quả: Anh Đồng Ngọc Á, anh Đồng Ngọc D bị chấn thương sọ não, được đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển lên bệnh viện V1 - Hà Nội để điều trị, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 126/KLTTCT-TTPY ngày 08/9/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đồng Ngọc D, sinh năm 2007 tại thời điểm giám định là 59% - cơ chế hình thành thương tích do vật tày trực tiếp gây nên.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 127/KLTTCT-TTPY ngày 10/9/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đồng Ngọc Á, sinh năm 2007 tại thời điểm giám định là 59% - cơ chế hình thành thương tích do vật tày trực tiếp gây nên".
* Kiểm tra nồng độ cồn, chất ma tuý vào 23h00' ngày 03/7/2025 đối với Nguyễn Đức K, Đồng Ngọc Á cho kết quả: Không phát hiện nồng độ cồn, chất gây nghiện trong máu của Nguyễn Đức K, Đồng Ngọc Á.
* Tại bản kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 26/9/2025 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video gửi giám định.
- Vận tốc của xe ô tô BKS 29H-067.83 di chuyển tại thời điểm 20 giờ 57 phút 26 giây ngày 03/7/2025 trong khoảng từ 28,32 đến 30,28. Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô BKS 29H-067.83 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô cần giám định.
* Tại bản kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Xe ô tô biển số 29H-067.83 va chạm với xe mô tô không biển số. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là ba đờ sốc trước bên lái (bên trái) xe ô tô biển kiểm số 29H-067.83 với mặt lăn, má lốp bánh trước bên cần số (bên trái) xe mô tô không biển số.
Quá trình điều tra xác định: Vị trí va chạm là phần đường bên trái theo hướng xã C - đường TL490C đến xã Q, vị trí gần phía trước đám nhựa vỡ được đánh số 4 trong biên bản khám nghiệm hiện trường.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Nguyễn Đức K điều khiển xe ô tô biển số 29H-067.83 đi trên đường TL488B, khi đến Km 12+600 đường TL488B, cũng là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường TL488B với đường liên xã Q và đường dong thôn N, xã Q đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; chuyển hướng xe mà không nhường đường cho xe đi ngược chiều là vi phạm điểm d, Khoản 3, Điều 12; Khoản 3, Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, dẫn đến gây tổn hại sức khỏe cho anh Đồng Ngọc D là 59%; anh Đồng Ngọc Á là 59%. Tổng tỷ lệ thương tích của hai người là 118%. Anh Đồng Ngọc Á điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không gắn biển số, chở theo Đồng Ngọc D đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức là vi phạm điểm d, Khoản 3, Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
* Về thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG màu trắng, biển số 29H-067.83, số máy CY4102E3C16036334, số khung LGDCUA1L1HH000411; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 317652 mang tên Nguyễn Đức K3 do Phòng C2 Công an thành phố H cấp ngày 28/8/2017; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 2960366 của xe ô tô 29H-067.83 có giá trị đến 19/7/2025; 01 giấy phép lái xe hạng A1, C số 360133003944 mang tên Nguyễn Đức K do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 26/10/2023. Quá trình điều tra xác định là của Nguyễn Đức K nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N đã trả lại cho Nguyễn Đức K.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không gắn biển số, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 000160 mang tên Phạm Vũ Văn D2 Công an xã N cấp ngày 17/10/2022. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Đồng Ngọc D1 (bố đẻ của D). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N đã trả lại cho ông Đồng Ngọc D1.
- 01 đĩa DVD-R màu trắng có in dòng chữ “NOVA” lưu trữ 01 đoạn video trích xuất camera nhà ông Vũ Thành N, sinh năm 1977; Trú tại thôn N, xã Q, tỉnh Ninh Bình ghi lại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông được chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Đối với xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng do va chạm giao thông, quá trình điều tra các bên đã tự nguyện khắc phục, không yêu cầu giải quyết.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn Nguyễn Đức K đã bồi thường cho người bị hại là anh Đồng Ngọc Á số tiền 80.000.000 đồng, bồi thường cho anh Đồng Ngọc D số tiền 35.000.000 đồng, anh Ánh và anh D không có yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Đức K.
Cáo trạng số 31/CT-VKS-KV9 ngày 15 tháng 12 năm 2025 của VKSND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức K là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quy định về an toàn giao thông đường bộ - là khách thể được Bộ luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Trong vụ va chạm giao thông giữa xe ô tô của bị cáo và xe mô tô của bị hại, lỗi chính dẫn đến va chạm và gây ra tai nạn là do bị cáo không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; chuyển hướng xe mà không nhường đường cho xe đi ngược chiều là vi phạm điểm d, Khoản 3, Điều 12; Khoản 3, Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Hậu quả anh Đồng Ngọc Á và anh Đồng Ngọc D đều bị thương tật tỷ lệ 59%, tổng tỷ lệ thương tật của 02 người là 118%. Lỗi của bị hại anh Đồng Ngọc Á điều khiển xe mô tô không gắn biển số, chở theo Đồng Ngọc D không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức là vi phạm điểm d, Khoản 3, Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng do cẩu thả nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Từ những chứng cứ nêu trên, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông khi tham gia giao thông của bị cáo Nguyễn Đức K dẫn đến việc anh Đồng Ngọc Á bị thương tật tỷ lệ 59% anh Đồng Ngọc D bị thương tật tỷ lệ 59%, đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 BLHS.
VKSND Khu vực 9 - Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS-KV9 ngày 15 tháng 12 năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại Điều 52 BLHS.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo thì bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của BLHS và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy về hình phạt không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo, nên áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 BLHS năm 2015, HĐXX tuyên hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo. Như vậy mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, đồng thời cũng thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình.
[6] Về biện pháp tư pháp:
[6.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đức K đã tự nguyện bồi thường cho anh Đồng Ngọc Á số tiền 80.000.000 đồng, bồi thường cho anh Đồng Ngọc D số tiền 35.000.000 đồng. Anh Ánh và anh D đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Phương tiện xe của bị cáo và của bị hại bị hư hỏng do va chạm giao thông, quá trình điều tra hai bên xin tự sửa chữa, khắc phục, không có yêu cầu gì khác về vấn đề dân sự. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.
[6.2] Về xử lý vật chứng. Cơ quan cảnh sát điều tra:
Trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG màu trắng, biển số 29H-067.83, số máy CY4102E3C16036334, số khung LGDCUA1L1HH000411; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 317652 mang tên Nguyễn Đức K3 do Phòng C2 Công an thành phố H cấp ngày 28/8/2017; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 2960366 của xe ô tô 29H-067.83 có giá trị đến 19/7/2025; 01 giấy phép lái xe hạng A1, C số 360133003944 mang tên Nguyễn Đức K cho Nguyễn Đức K.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không gắn biển số, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 000160 mang tên Phạm Vũ Văn D2 Công an xã N cấp ngày 17/10/2022 là tài sản hợp pháp của anh Đồng Ngọc D1 (bố đẻ của D) cho anh Đồng Ngọc D1.
Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh N là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với anh Đồng Ngọc Á điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển, không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật dẫn đến va chạm với xe ô tô biển số 29H-067.83 do Nguyễn Đức K điều khiển vào ngày 03/7/2025 là vi phạm khoản 1 Điều 9 và điểm d, khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu có liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh N đề nghị xử lý theo quy định.
Đối với anh Đồng Ngọc D mặc dù biết anh Đồng Ngọc Á chưa có giấy phép lái xe theo quy định (không đủ điều kiện tham gia giao thông) nhưng ngày 03/7/2025 vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển số cho anh Ánh điều khiển dẫn đến va chạm với xe ô tô biển số 29H-067.83 do Nguyễn Đức K điều khiển là vi phạm khoản 7 Điều 9 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Cơ quan điều tra - Công an tỉnh N đã chuyển tài liệu có liên quan đến Phòng cảnh sát giao thông - Công an tỉnh N đề nghị xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Đồng Ngọc D1 là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không gắn biển số và ông Đồng Văn P được anh D1 giao quản lý và sử dụng xe mô tô này, anh D1 và ông P không giao xe cho Đồng Ngọc Á điều khiển nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Xử phạt Nguyễn Đức K 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng; tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/12/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Đức K cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ Điều 36, điểm b khoản 1 Điều 38 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, bị cáo Nguyễn Đức K không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào Điều 123; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 161/LCCT-TA ngày 16/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Ninh Bình đang được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Đức K.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Hữu B - Tàng trữ ma tuý
