Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DS - PT

Ngày: 12 - 12 - 2025

V/v: “Tranh chấp đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Năng

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang, Bà Trần Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh L - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 37/2025/TLPT – DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp đất đai”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Tĩnh bị kháng nghị và bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐ-PT ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Trần Huy T; Sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, có mặt.
  • * Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng N; Luật sư thuộc Công ty L1; Địa chỉ: Số A; đường L; phường T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H; Sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, có mặt.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Trương Thị N1; Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, có mặt.
    • - Bà Trần Thị H1; Sinh năm 1966; Nơi cư trú: Phường H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị H2; Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị Hồng Q; Sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Nguyễn Thị C; Sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị N2; Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị H3; Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khối phố T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị Hoài P; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị A; Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
    • - Ông Trần Hậu P1; Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.
  • * Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1; bà H2; bà Q; bà C; bà N2; bà H3; bà P; Bà A; ông P1: Ông Biện Vũ H4; Sinh năm 2002; Nơi cư trú: Xã C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, có mặt.
  • * Người tham gia tố tụng khác: UBND xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Người được uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Bùi Thị H5; Chức vụ: Cán bộ địa chính, vắng mặt.
  • - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2024; bản tự khai ngày 26/02/2025, biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2025; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn (ông Trần Huy T) và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Biện Vũ H4) trình bày:

Ông nội của ông Trần Huy T là ông Trần Hậu M, sinh năm 1922, chết ngày 17/01/2013 và bà nội là bà Lê Thị S, sinh năm 1930, chết ngày 12/11/1987, trước khi chết ông Trần Hậu M và bà Lê Thị S không lập di chúc. Ông Trần Hậu M và bà Lê Thị Sỹ S1 được 04 người con, gồm: Ông Trần Huy T1, sinh năm 1948, chết năm 1995 (ông T1 có vợ là bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952 và các con Trần Huy T, sinh năm 1973; Trần Thị N2; Sinh năm 1975; Trần Thị H3 Sinh năm 1982; Trần Thị Hoài P; Sinh năm 1983; Trần Thị A; Sinh năm 1985; và Trần Hậu P1; Sinh năm 1987); bà Trần Thị H1, sinh năm 1966; bà Trần Thị H2, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Hồng Q, sinh năm 1973. Lúc còn sống ông Trần Hậu M và bà Lê Thị S có 01 thửa đất số 142, tờ bản đồ số 13, bản đồ 299, diện tích 2474 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Theo bản đồ 371 là thửa đất số 627, tờ bản đồ số 8, diện tích 2572 m². Ông Trần Hậu M đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007 tại thửa số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, diện tích 2707 m², trong đó 200 m² đất ở và 2507 m² đất vườn. Năm 2022, gia đình ông Trần Huy T làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện ông Nguyễn Văn H xây tường rào lấn chiếm phần đất có diện tích 113,2 m² nên hai bên phát sinh tranh chấp, ông Trần Huy T đã nhiều lần gặp ông Nguyễn Văn H để yêu cầu ông H tháo dỡ tường rào và trả lại đất nhưng ông H không đồng ý. Quá trình UBND xã T hòa giải tranh chấp thì ông Nguyễn Văn H đồng ý hỗ trợ gia đình ông T số tiền 20.000.000 đồng nhưng ông T không đồng ý. Nay nguyên đơn làm đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Nguyễn Văn H tháo dỡ tường rào xây dựng trái phép và trả lại 113,2 m² đất vườn đã lấn chiếm tại thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, thuộc địa phận thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535 ngày 11/6/2007 của UBND huyện T cấp cho ông Trần Hậu M.

Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Văn H tháo dỡ tường rào xây dựng trái phép và trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 111 m².

* Tại bản tự khai ngày 20/02/2025, ngày 04/5/2025; biên bản lấy lời khai đương sự ngày 28/5/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn (ông Nguyễn Văn H) trình bày:

Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là của cha mẹ ông Nguyễn Văn H để lại. Theo bản đồ 299 là thửa đất số thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 1550 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Theo bản đồ 371 là thửa đất số 626, tờ bản đồ số 8, diện tích 1619 m², kê khai tên bố ông H là Nguyễn Vinh. Thửa đất đã được ông Nguyễn Văn H kê khai và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818526, ngày 11/6/2007 tại thửa số 502, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, diện tích 1619 m², trong đó 200 m² đất ở và 1419 m² đất vườn cho ông Nguyễn Văn H, sau đó được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014 tại thửa số 105, tờ bản đồ số 41, diện tích 1490,9 m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1. Năm 2012 ông Nguyễn Văn H xây tường rào, khi xây có thông báo cho ông T đến để thống nhất mốc giới, kinh phí xây tường rào ông H tự bỏ, ông T có hứa hẹn hỗ trợ một phần kinh phí nhưng sau đó không thực hiện. Hiện nay ông Trần Huy T khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Nguyễn Văn H tháo dỡ bức tường xây dựng giữa hai phần đất và trả lại phần đất có diện tích 111 m² cho nguyên đơn thì ông Nguyễn Văn H không chấp nhận.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1; bà H2; bà Q; bà C; bà N1; bà H3; bà P; Bà A; ông P1 ủy quyền cho ông Biện Vũ H4 trình bày phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Trương Thị N1 trình bày: Nhất trí với ý kiến của bị đơn và có đơn xin vắng mặt tại tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/6/2025 và sơ đồ kèm theo cho thấy: Thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, bản đồ 299, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Theo bản đồ 371 là thửa đất số 626, tờ bản đồ số 8. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014 tại thửa số 105, tờ bản đồ số 41, diện tích 1490,9 m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1. Trên đất có một ngôi nhà xây, công trình vệ sinh, công trình chăn nuôi, nhà để máy xay xát và một số cây ăn quả. Tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao thông; phía Nam giáp đất ông Trần Hậu M; phía Đông giáp đường giao thông; phía Tây giáp đường giao thông. Xung quanh thửa đất đã xây tường rào cao 1,5 m bằng gạch Taplo. Diện tích thực tế sử dụng theo sơ đồ hiện trạng thửa đất là 1587,2 m².

Thửa đất 142, tờ bản đồ số 13, bản đồ 299, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Theo bản đồ 371 là thửa đất số 627, tờ bản đồ số 8. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007 cho ông Trần Hậu M tại thửa số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, diện tích 2707 m², trong đó 200 m² đất ở và 2507 m² đất vườn. Trên đất ông T đã trồng một số cây ăn quả, không kiểm đếm nên không rõ số lượng. Tứ cận: Phía Bắc giáp đất ông H đã có tường rào do ông H xây; phía Nam giáp đất anh H6 đã có tường rào do anh H6 xây và đất anh H2 đã có tường rào do ông T xây; phía Đông giáp đường giao thông, ông T đã rào bằng cọc bê tông đây thép gai; phía Tây giáp đất hoang và đường giao thông, ông T đã rào bằng cọc bê tông đây thép gai. Diện tích thực tế sử dụng theo sơ đồ hiện trạng thửa đất là 2524,2 m².

Định vị tọa độ theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 trên thực địa thì ranh giới phía Nam của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 nằm chưa đến tường rào của ông Nguyễn Văn H xây; Tường rào của ông Nguyễn Văn H xây vượt quá sang phần đất của gia đình ông Trần Huy T có diện tích 111,0 m². Ngoài ra về phía Đông, ông H xây tường rào còn thiếu phần đất có diện tích 9,6 m², về phía Tây, ông H xây tường rào còn thiếu phần đất có diện tích 5,2 m².

* Tại văn bản số 63/UBND ngày 31/3/2025, biên bản xác minh ngày 03/6/2025 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của UBND xã T trình bày:

Nguồn gốc thửa đất của hộ ông Trần Văn T2 theo hồ sơ 299, thuộc thửa đất số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 2474 m², mang tên trong sổ mục kê là Nguyễn M1; theo hồ sơ 371, thuộc thửa đất số 627, tờ bản đồ số 8, diện tích 2572 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2372 m²; sổ mục kê mang tên Nguyễn Văn M1, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007, diện tích 2707 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2507 m² tại thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, mang tên hộ ông Trần Hậu M. Nguồn gốc thửa đất của hộ ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ 299, thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 1550 m², mang tên trong sổ mục kê là Nguyễn V1; theo hồ sơ 371, thuộc thửa đất số 626, tờ bản đồ số 8, diện tích 1619 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 1419 m²; sổ mục kê mang tên Lê Thanh V, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818526, ngày 11/6/2007, diện tích 1619 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 1419 m² tại thửa đất số 502, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, mamg tên hộ ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1. Ngày 10/5/2014 ông Nguyễn Văn H đã hiến phần diện tích đất 100,1 m² để làm đường giao thông. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014, diện tích 1490,9 m² đất ở tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 41 mamg tên ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1.

Phần diện tích 113,2 m² đất đang tranh chấp được thể hiện tại số liệu trích đo do Chi nhánh văn phòng Đ - L gửi cho UBND xã khi đo đạc theo sự chỉ dẫn ranh mốc của các bên đương sự. Phần diện tích 113,2 m² không nằm trong diện tích đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H.

Ông Nguyễn V1 và ông Lê Thanh V là một người, ông V hiện nay đã chết, là bố đẻ ông Nguyễn Văn H; ông Nguyễn M1, ông Nguyễn Văn M1, ông Trần Hậu M là một người, ông M hiện nay đã chết, là ông nội ông Trần Huy T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS - ST ngày 31/7/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 01/2025/QĐ-SCBSBA ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Trần Huy T;

Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 phải trả lại cho các thừa kế của ông Trần Hậu M,gồm ông Trần Huy T,bà Trần Thị H1,bà Trần Thị H2, bà Trần Thị Hồng Q, bà Nguyễn Thị C, chị Trần Thị N2, chị Trần Thị H3, chị Trần Thị Hoài P, chị Trần Thị A và anh Trần Hậu P1 phần đất có ký hiệu S2, diện tích 111 m² tại thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007, diện tích 2707 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2507 m², cho hộ ông Trần Hậu M;

Công nhận sự thỏa thuận của ông Trần Huy T về việc trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 về phía Đông, phần đất có ký hiệu S3, diện tích 9,6 m²; về phía Tây, phần đất có ký hiệu S1, diện tích 5,2 m², tổng cộng 14,8 m² tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 41, bản đồ địa chính đo đạc năm 2012, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014, diện tích 1490,9 m² cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1.

Buộc ông Nguyễn Văn Hvà bà Trương Thị N1 phải tháo dỡ phần tường rào đã xây dựng trên diện tích đất phải trả lại cho ông Trần Huy T.

(Phần diện tích đất buộc các bên phải trả lại có sơ đồ kèm theo là một phần không tách rời bản án).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 18/8/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng bản đồ cấp sổ đỏ năm 2007 để giải quyết vụ án.

Ngày 28/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐKNPT-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên về phần công nhận sự thỏa thuận của ông Trần Huy T và phần án phí. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên nội dung kháng nghị và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1 giữ nguyên kháng cáo.

Bà Trương Thị N1 trình bày:

Gia đình ông Nguyễn Văn V1 (cha ông Nguyễn Văn H) và gia đình ông Trần Hậu M (ông nội ông Trần Huy T) có 02 mảnh vườn liền kề, chung sống hơn 60 năm qua. Gia đình ông M mở một cái ngõ từ trong nhà đi ra đường cái, hai gia đình thống nhất lấy cái ngõ đó làm ranh giới. Năm 2007, đoàn trung ương về kiểm tra, đo vẽ lại thì diện tích vườn ông V1 là 1619m² và diện tích vườn ông M là 2572m². Đến năm 2014 khi được cấp lại sổ thì diện tích đất của chúng tôi chỉ còn 1490m², bà không đồng ý. Đề nghị Tòa án áp dụng bản đồ 371 năm 2007 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Bị đơn trình bày:

Phần diện tích gia đình bị đơn đã hiến đất để làm đường là phần đất phía Tây, không phải phía Nam như trong sơ đồ đã thể hiện. Theo bản đồ 371 thì phần diện tích đất của bị đơn là 1619m², nhưng không hiểu sao khi cấp lại sổ hồng năm 2014, phần diện tích bị giảm đi chỉ còn 1490m², trong khi phần diện tích của gia đình ông M (ông nội ông T) lại tăng lên. Khi xây dựng tường rào hai bên đã thỏa thuận cùng nhau góp chi phí nhưng sau đó chỉ có gia đình ông H chịu. Ranh giới đất giữa hai nhà đã xây dựng không ai tranh chấp, dân làng trong xóm ai cũng biết, nên ông không đồng ý với bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của ông M đứng tên được cấp giấy năm 2007. Việc sử dụng đất liên tục và đúng quy định và không có tranh chấp cho đến khi ông H xây dựng hàng rào lấn đất của gia đình hộ ông M. Việc xây dựng này gia đình ông M không biết và không có thỏa thuận nào giữa 02 bên gia đình. Theo hồ sơ cấp đổi, ông H là người đăng ký cấp đổi diện tích 1490 m². Ông H trình bày diện tích đất của gia đình ông bị giảm do phía nguyên đơn lấn chiếm, là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị N1.

Đối với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đồng ý trả lại cho bị đơn phần diện tích 14,8m². Về án phí, nguyên đơn đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn ông H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N1 trình bày bổ sung: Không đồng ý nhận lại phần diện tích 14,8m². Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên trả lại phần diện tích 129m² bị thiếu theo số liệu đo đạc tại bản đồ 371.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự. Sau khi phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với phần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Huy T; Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án “Tranh chấp đất đai” thụ lý giải quyết là đúng quy định về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Đơn kháng cáo của bà Trương Thị N1, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh làm trong hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.3]. Về những người tham gia tố tụng: Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng những người này đã có người đại diện ủy quyền tham gia phiên tòa hoặc có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Các đương sự có mặt tại phiên tòa cũng không có ý kiến về việc vắng mặt những người này. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét kháng cáo của bà Trương Thị N1:

[2.1.1]. Căn cứ hồ sơ pháp lý về nguồn gốc đất của ông Trần Huy T và ông Nguyễn Văn H, xét thấy:

Đối với nguồn gốc đất của ông Trần Huy T thể hiện: Theo hồ sơ 299, thửa đất của gia đình ông Trần Huy T thuộc thửa đất số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 2474 m², mang tên trong sổ mục kê là Nguyễn M1; theo hồ sơ 371, thuộc thửa đất số 627, tờ bản đồ số 8, diện tích 2572 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2372 m²; sổ mục kê mang tên Nguyễn Văn M1, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007, diện tích 2707 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2507 m² tại thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, mang tên hộ ông Trần Hậu M.

Đối với nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn H thể hiện: Theo hồ sơ 299, thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn H thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13, diện tích 1550m², mang tên trong sổ mục kê là Nguyễn V1; theo hồ sơ 371, thuộc thửa đất số 626, tờ bản đồ số 8, diện tích 1619m², trong đó đất ở 200m², đất vườn 1419m²; sổ mục kê mang tên Lê Thanh V, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818526, ngày 11/6/2007, diện tích 1619m², trong đó đất ở 200m², đất vườn 1419m² tại thửa đất số 502, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, mang tên hộ ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014, diện tích 1490,9 m² đất ở tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 41 mang tên ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1.

Căn cứ vào hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H do UBND xã T cung cấp thì trong quá trình xây dựng nông thôn mới, vào ngày 10/5/2014 ông Nguyễn Văn H đã hiến phần đất làm đường có diện tích 100,1m²; Đơn đề nghị đăng ký biến động quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 đăng ký diện tích 1491m²; Kết quả đo đạc địa chính thửa đất có diện tích 1490,9m².

Do đó, bà N1 kháng cáo cho rằng quá trình đo đạc làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T đã cắt diện tích 129m² của gia đình bà và yêu cầu Tòa án sử dụng bản đồ cấp sổ đỏ năm 2007 là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.1.2]. Xét thấy, ranh giới giữa thửa đất gia đình ông Trần Huy T và thửa đất ông Nguyễn Văn H theo bản đồ 2012 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H được cấp là một đường thẳng, các điểm trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H đều có tọa độ.

Định vị tọa độ theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 trên thực địa thì ranh giới phía Nam của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 nằm chưa đến tường rào của ông Nguyễn Văn H xây; Tường rào của ông Nguyễn Văn H xây vượt quá sang phần đất của gia đình ông Trần Huy T có diện tích 111 m². Ngoài ra về phía Đông, ông H xây tường rào còn thiếu phần đất có diện tích 9,6 m²; về phía Tây, ông H xây tường rào còn thiếu phần đất có diện tích 5,2 m².

[2.1.3]. Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1 không có cơ sở chấp nhận.

[2.2]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh:

[2.2.1]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Huy T chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn H trả lại phần đất đã lấn chiếm 111m² và tháo dỡ tường rào xây dựng trái phép, bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Tại biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/7/2025 (BL 147-151), không có nội dung nào phản ánh nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận với nhau về việc ông T trả lại đất cho ông H và bà N1.

Tại biên bản ghi lời khai của bị đơn ông Nguyễn Văn H ngày 26/8/2025 (BL 177-178), ông H trình bày không thỏa thuận với ông Trần Huy T về việc ông T trả lại cho ông phần đất có diện tích 14,8m², trong đó phần đất phía Đông có ký hiệu S3=9,6m²; phần đất phía Tây, có ký hiệu S1=5,2m².

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại ghi nhận sự tự nguyện trả đất của gia đình ông Trần Huy T và tuyên công nhận thỏa thuận nội dung trên là đã vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng ý trả lại cho bị đơn phần diện tích phần đất có diện tích 14,8m², trong đó phần đất phía Đông có ký hiệu S3=9,6m²; phần đất phía Tây, có ký hiệu S1=5,2m². Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về nội dung này.

[2.2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016, nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc cả nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là không đúng.

[2.2.3]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

[3]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên toà là phù hợp nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự:

[4.1]. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trần Huy T không phải chịu. Bị đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4.2]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà Trương Thị N1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; Điều 270; Điều 293; khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N1.

2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

3. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh về việc “Tranh chấp đất đai” giữa nguyên đơn ông Trần Huy T với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Huy T về việc trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 về phía Đông, phần đất có ký hiệu S3, diện tích 9,6 m²; về phía Tây, phần đất có ký hiệu S1, diện tích 5,2 m², tổng cộng 14,8 m² tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 41, bản đồ địa chính đo đạc năm 2012, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 037093, ngày 26/6/2014, diện tích 1490,9 m² cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1.

4. Căn cứ Điều 155; Điều 158; Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 168; Điều 169; Điều 176; Điều 181; Điều 235; Điều 579; Điều 580 BLDS năm 2015; các Điều 11; Điều 26; Điều 31; Điều 37; Điều 135; Điều 236 Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

4.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Trần Huy T;

4.2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 phải trả lại cho các thừa kế của ông Trần Hậu M, gồm ông Trần Huy T, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị H2, bà Trần Thị Hồng Q, bà Nguyễn Thị C, chị Trần Thị N2, chị Trần Thị H3, chị Trần Thị Hoài P, chị Trần Thị A và anh Trần Hậu P1 phần đất có ký hiệu S2, diện tích 111 m² tại thửa đất số 503, tờ bản đồ số 8, bản đồ 371 chỉnh lý, địa chỉ thửa đất: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 818535, ngày 11/6/2007, diện tích 2707 m², trong đó đất ở 200 m², đất vườn 2507 m², cho hộ ông Trần Hậu M;

Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị N1 phải tháo dỡ phần tường rào đã xây dựng trên diện tích đất phải trả lại cho ông Trần Huy T.

(Phần diện tích đất buộc các bên phải trả lại có sơ đồ kèm theo là một phần không tách rời bản án).

5. Về án phí dân sự:

5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Huy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông T số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0005510 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;

Ông Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Trương Thị N1 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp tho Biên lai thu số 0000079 ngày 27/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh (bà N1 đã nộp đủ).

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND khu vực 1 – Hà Tĩnh;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Quang Năng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS - PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 52/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger